• Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử của Cục Thống kê tỉnh Kon Tum.
  • Địa chỉ: 415 URE - Phường Trường Chinh - Thành phố Kon Tum - Tỉnh Kon Tum.
Chủ Nhật, 23/06/2024 21:12
Thông tin kinh tế xã hội
Tình hình giá cả thị trường tỉnh Kon Tum tháng 4 năm 2023
Cập nhật: Thứ Bảy, 29/04/2023 08:11

 

 

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 năm 2023 giảm 0,67% so với tháng trước;  tăng 4,91% so với cùng tháng năm trước; tăng 0,18% so với tháng 12 năm trước, tăng 10,78% so với kỳ gốc 2019; CPI bình quân 4 tháng năm 2023 so với cùng kỳ năm trước tăng 5,98%.

 

Trong mức giảm 0,67% của CPI tháng 4/2023 so với tháng trước có 04 nhóm tăng là nhóm May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,04%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,07%; nhóm Giao thông tăng 0,27%; nhóm Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,08%. Có 07 nhóm giảm là nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,2%; nhóm Đồ uống và thuốc lá giảm 1,19%; nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,09%; nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,1%; nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,05%; nhóm Giáo dục giảm 0,22%; nhóm Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,94%.

 

 

Diễn biến giá tiêu dùng tháng 4/2023 so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau:

 

- Bốn nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:

 

(1) Chỉ số nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,04%, trong đó nhóm vải các loại tăng 0,62%, nhóm mũ nón tăng 1,21%, trong đó mũ bải hiểm xe máy tăng 2,03%. Nguyên nhân là do nên nhu cầu mua sắm tăng làm cho giá tăng theo.

 

(2) Chỉ số nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,07%, là do thuốc các loại tăng 0,37%, trong đó thuốc chống nhiễm, điều trị ký sinh trùng tăng 0,72%, thuốc tác động vào hệ nội tiết tăng 1,78%, thuốc tác động trên đường hô hấp tăng 1,63%, vitamin và khoáng chất tăng 1,81%.

 

(3) Chỉ số nhóm giao thông tăng 0,27%, nguyên nhân chủ yếu là do nhóm nhiên liệu tăng 1,0%, do trong tháng có các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu các ngày 03, 11, 21 tháng 4/2023, tính bình quân so với tháng trước thì chỉ số giá xăng tăng 1,11%, riêng dầu diezel giảm 1,93%.

 

(4) Chỉ số nhóm Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,08% là do đồ dùng cá nhân tăng 0,94%, trong đó  dụng cụ cá nhân không dùng điện tăng 1,41%, đồ trang sức tăng  0,24% là tăng theo giá vàng; về hỉ tăng 2%, trong đó dịch vụ về hỉ tăng 3,01%.

 

- Bảy nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:

 

(1) Chỉ số nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,2%, trong đó:

 

+ Nhóm lương thực: Chỉ số nhóm lương thực tăng 0,02%, riêng chỉ số nhóm gạo giảm 0,26%, trong đó gạo tẻ thường giảm 0,37%, nguyên nhân là do trên địa bàn bắt đầu thu hoạch lúa vụ Đông xuân, riêng gạo tẻ ngon tăng 0,8%, gạo nếp tăng 0,08%. Nhóm bột mì và ngũ cốc khác tăng 1,31%, trong đó khoai tăng 0,82%, ngô tăng 6,26% là do nhu cầu tiêu dùng tăng nên làm giá tăng theo. Nhóm lương thực chế biến tăng 0,41%, trong đó bánh mỳ tăng 2,03%.

 

+ Nhóm thực phẩm: Chỉ số nhóm thực phẩm giảm 1,84%, cụ thể: nhóm thịt gia súc tươi sống giảm 0,34%, trong đó thịt lợn giảm 0,39%, thịt bò giảm 0,13%, nguyên nhân là do nguồn cung tăng nên làm cho giá giảm. Nhóm thịt gia cầm tăng 0,12%, trong đó thịt gia cầm khác tăng 1,4%. Nhóm thịt chế biến giảm 0,47%, trong đó thịt quay, giò chả giảm 0,56%. Nhóm trứng các loại giảm 1,66%, trong đó trứng tươi các loại giảm 1,7%. Nhóm dầu, mỡ ăn và chất béo khác giảm 0,33%, trong đó dầu thực vật giảm 0,66%.

 

Nhóm thủy sản tươi sống giảm 4,95% là do nhóm cá tươi hoặc ướp lạnh giảm 4,65%, tôm tươi hoặc ướp lạnh giảm 7,51%, nguyên nhân chủ yếu là do lượng cung dồi dào và nhu cầu tiêu dùng giảm nên làm cho giá giảm.

 

Nhóm rau tươi, khô và chế biến giảm 9,7%, trong đó bắp cải giảm 11,13% (giảm 1.000 đến 2.000 đồng/kg), cà chua giảm 15,65% (giảm 2.000 đến 3.500 đồng/kg), rau muống giảm 10,39% (giảm 1.000 đồng/kg), khoai tây giảm 11,37%, rau dạng quả, củ giảm 13,64%, đỗ quả tươi giảm 18,46%, rau chế biến các loại giảm 7,51%, rau tươi khác giảm 6,85%, rau gia vị tươi khô các loại giảm 8,36%. Nguyên nhân chủ yếu là các sản phẩm trên đang mùa thu hoạch và thời tiết thuận lợi cho việc gieo trồng các loại rau trên nên có năng suất cao và lượng cung cho thị trường tăng mạnh do đó làm cho giá giảm mạnh theo quy luật cung cầu.

 

Nhóm quả tươi, chế biến tăng 0,41%, trong đó chuối tăng 0,47%, quả có múi tăng 0,51%, táo tăng 0,95%, xoài tăng 0,94%, nguyên nhân là do nhu cầu tiệu dùng tăng làm cho giá tăng theo.

 

Nhóm đồ gia vị tăng 0,23%, trong đó mì chính (bột ngọt) tăng 0,67%; Nhóm đường mật tăng 0,67%, trong đó đường tăng 1,18%. Nhóm sữa, bơ, pho mai tăng 0,22%, trong đó sữa tươi tăng 0,68%, nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu tiêu dùng tăng.

 

(2) Chỉ số nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 1,19%, là do nhóm rượu bia giảm 2,55%, trong đó bia các loại giảm 3,79%, rượu các loại giảm 0,54%. Nguyên nhân là do nhu cầu tiêu dùng giảm mạnh nên làm cho giá giảm theo.

 

(3) Chỉ số nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,09%, tác động chính là do nhóm gas và các loại chất đốt khác giảm 9,63%, trong đó giá gas giảm 13,37%, giảm 62.000 đồng/bình 12 kg từ ngày 01/4/2023; giá dầu hỏa qua ba đợt điều chỉnh giá xăng, dầu vào các ngày 03, 11, 21 tháng 4/2023, tính bình quân giảm 3,83%. Điện sinh hoạt giảm 1,98%; nước sinh hoạt giảm 1,7% là do nhu cầu tiêu dùng giảm nên làm cho giá bình quân giảm. Riêng vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,53%, trong đó vật liệu bảo dưỡng nhà ở chính tăng 0,93%, tăng chủ yếu là các mặt hàng sắt, thép và cát sỏi.

 

(4) Chỉ số nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,1%, giảm chủ yếu là do nhóm đồ dùng nấu ăn giảm 0,95%; nhóm giường tủ, bàn, ghế giảm 0,79%; nhóm đồ nhựa và cao su giảm 0,44%, nguyên nhân là do các cơ sở kinh doanh giảm giá khuyến mãi để kích cầu.

 

(5) Chỉ số nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,05%, là do thiết bị điện thoại giảm 0,15%, trong đó máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 2,28%, phụ kiện máy điện thoại di động thông minh giảm 0,58%, nguyên nhân là do các cơ sở kinh doanh giảm giá khuyến mãi nhiều dòng điện thoại di động để kích cầu.

 

(6) Chỉ số nhóm Giáo dục giảm 0,22%, là do nhóm văn phòng phẩm giảm 0,95%, trong đó sách giáo khoa giảm 1,58%, bút viết các loại giảm 1,13%, văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác giảm 0,21%.

 

(7) Chỉ số nhóm Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,94% là do nhóm thiết bị văn hóa giảm 1,08%, trong đó ti vi màu giảm 2,09%, đầu DVD giảm 2,49%; nhóm thiết bị dụng cụ thể thao giảm 0,46%, trong đó thiết bị thể dục thể thao giảm 1,59%, nguyên nhân chủ yếu là do các cơ sở kinh doanh giảm giá khuyến mãi.

 

Cục Thống kê 

TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC