• Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử của Cục Thống kê tỉnh Kon Tum.
  • Địa chỉ: 415 URE - Phường Trường Chinh - Thành phố Kon Tum - Tỉnh Kon Tum.
Thứ Hai, 06/02/2023 09:01
Thông tin kinh tế xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum tháng 10 năm 2022
Cập nhật: Thứ Bảy, 29/10/2022 08:17

 

Tình hình phát triển kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 trên địa bàn tỉnh Kon Tum tiếp tục ổn định, phát triển và đạt được nhiều kết quả, nhiều chỉ tiêu quan trọng của tỉnh tiếp tục tăng cao so với cùng kỳ...Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát tốt; hoạt động tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19 được đẩy mạnh; các chế độ, chính sách bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội được triển khai đầy đủ, kịp thời; quốc phòng, an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Sơ bộ đánh giá những kết quả quan trọng như sau:

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng Mười diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi. Các địa phương  tập trung chủ yếu cho việc chăm sóc, thu hoạch cây hàng năm vụ mùa và trồng mới cây lâu năm, trồng rừng tập trung. Công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được triển khai thường xuyên; tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, trồng cây xanh và đảm bảo an toàn thuỷ lợi cho sản xuất trong mùa mưa lũ gắn với phòng chống dịch bệnh. Hoạt động Lâm nghiệp luôn được UBND tỉnh quan tâm, triển khai nhiều giải pháp tích cực; tuyên truyền, chỉ đạo các cơ quan chức năng liên quan tăng cường công tác bảo vệ rừng và chuẩn bị tốt các điều kiện phòng, chống cháy rừng vào cuối mùa khô năm 2022; Nâng cao nhận thức của người dân để góp phần ngăn chặn kịp thời và làm giảm đáng kể số vụ vi phạm lâm luật.

1.1. Nông nghiệp

a) Trồng trọt

Ước tính đến thời điểm ngày 15/10/2022, tổng diện tích gieo trồng (DTGT) cây hàng năm vụ mùa 2022 tỉnh Kon Tum là 66.824 ha, tăng 3,86% (+2.486 ha) so với cùng kỳ vụ mùa năm 2021. Cụ thể DTGT một số cây trồng so với cùng kỳ năm trước như sau:

- Cây lúa DTGT: 15.696 ha, giảm 3,11% (-504 ha). Trong đó: Cây lúa ruộng: 12.612 ha;  Cây lúa rẫy: 3.084 ha.

Do ảnh hưởng bão số 4, có 1,25 ha lúa ruộng bị đất vùi lấp, mất trắng hoàn toàn tại các xã Đăk Nên, Đăk Tăng huyện Kon Plông và 10,4 ha lúa ruộng bị đổ ngã tại các xã Đăk Ring, Đăk Nên, Măng Bút huyện Kon Plông; Lúa rẫy bị đổ ngã 1 ha tại xã Đăk Ring huyện Kon Plông.

Số diện tích còn lại phát triển bình thường không sâu bệnh, hạn hán, lũ lụt.

- Cây ngô DTGT: 4.639 ha, giảm 3,38% (-162 ha).

- Cây sắn DTGT: 40.174 ha, tăng 3,6% ( +1.406 ha).

- Khoai lang DTGT: 618 ha, tăng gấp hơn 3 lần (+457 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích tăng là do một số doanh nghiệp trồng xen khoai lang trên đất cao su.

- Cây lạc DTGT: 118 ha, tăng 10,3% (+11 ha).

- Đậu các loại DTGT: 402 ha, tăng 44,5% (+124 ha).

- Rau các loại DTGT: 1.576 ha, tăng 5,5% (+83 ha).

Diện tích gieo trồng lạc, đậu các loại, rau các loại tăng là do năm nay thời tiết thuận lợi nên người dân mở rộng diện tích gieo trồng.

b) Chăn nuôi

Ngành chăn nuôi tiếp tục tăng cường  công  tác phòng, chống  dịch  bệnh trên động vật, quản lý chặt chẽ tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm, tổ chức  tiêm vắc xin phòng bệnh cho động vật, đặc biệt là bệnh  nguy  hiểm trên đàn vật nuôi, như: cú giacầm, lở mồm long móng, viêm da nổi cục... Tuyên truyền, hướng  dẫn người dân tuân thủ quy trình thú y, chăn nuôi an toàn sinh học gắn với bảo vệ môi trường, xử lý nghiêm trường hợp buôn bán rong động vật không rõ nguồn gốc, giết mổ, vứt xá động vật bệnh, nghi mắc bệnh ra môi trường.

(1) Tình hình chăn nuôi

Tổng đàn trâu 24.530 con, giảm 1,01% (-250 con) so với cùng kỳ năm trước. Số con xuất chuồng 10 tháng năm 2022 là 2.423 con, tăng 1,68% (+40 con) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng là 633,5 tấn, tăng 1,52% (+9,5 tấn) so với cùng kỳ năm trước.  

Tổng đàn bò 84.370 con, tăng 0,98% (+820 con) so với cùng kỳ năm trước. Số con xuất chuồng 10 tháng năm 2022 là 27.384 con, tăng 0,49% (+130 con) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng là 4.743 tấn, tăng 1,02% (+48 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Tổng đàn lợn 156.150 con, tăng 5,21% (+7.728 con) so với cùng kỳ năm trước. Số con xuất chuồng 10 tháng năm 2022 là 247.176 con, tăng 2,75% (+6.610 con) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng là 18.657 tấn, tăng 3,46% ( +624 tấn ) so với cùng kỳ năm trước.

Tổng đàn gia cầm 1.868.000 con, tăng 4,88% (+87.000 con) so với cùng kỳ năm trước, Trong đó: đàn gà 1.663.000 con, tăng 4,07% (+65.000 con) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi gia cầm xuất chuồng 4.756 tấn, tăng 6,47% (+289 tấn) so với năm trước. Trong đó: sản lượng thịt hơi gà xuất chuồng 4.199 tấn, tăng 7,25% (+284 tấn).

(2) Tình hình dịch bệnh

Trong tháng, đã phát sinh và tiêu hủy 56 con lợn mắc bệnh dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) với tổng trọng lượng 1.620 kg tại 04 ổ dịch Đăk Kan - Ngọc Hồi; Sa Bình- Sa Thầy; Xã Hiếu –Kon Plong; Ia Đal- Ia H’Drai. Hiện tại, về cơ bản đã kiểm soát và khống chế dịch bệnh DTLCP trên địa bàn tỉnh.

1.2. Lâm nghiệp

Công tác trồng rừng, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững được chú trọng và đạt được nhiều kết quả tích cực. Công tác quản lý bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng, vận chuyển lâm sản trái pháp luật và phòng cháy chữa cháy rừng tiếp tục được tăng cường.

Trong tháng 10 năm 2022, sản xuất lâm nghiệp tập trung chủ yếu thực  hiện khai thác gỗ, củi và chăm sóc rừng trồng. Ngành Kiểm lâm tăng cường phối hợp với các ngành, các địa phương thực hiện nghiêm túc công tác quản lý, bảo vệ rừng, tiếp tục tổ chức các đợt truy quét, phối hợp tuần tra bảo vệ rừng. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân đã góp phần ngăn chặn kịp thời và làm giảm đáng kể số vụ vi phạm lâm luật.

- Công tác trồng rừng: Kế hoạch trồng mới rừng năm 2022 được giao chi tiết cho từng đơn vị, địa phương để triển khai thực hiện, đồng thời chỉ đạo chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để trồng mới rừng, phấn đấu hoàn thành mục tiêu năm 2022 đã đề ra. Năm nay thời tiết thuận lợi nên diện tích rừng trồng mới tăng.

Ước tính đến thời điểm 31/10/2022, công tác trồng rừng tập trung trên địa bàn tỉnh là 4.911,6 ha, tăng 24,2% (+956,6 ha) so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, từ đầu năm đến nay các đơn vị chủ rừng đã thực hiện: Khoán bảo vệ rừng 79.301,64 ha; chăm sóc rừng 1.739,57 ha; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 1.467,59 ha.

- Công tác khai thác lâm sản: ước tính đến ngày 31/10/2022, trên địa bàn tỉnh khai thác gỗ là 121.250 m3, tăng 3% (+3.500 m3) so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng củi khai thác ước đạt 233.540 ster, tăng 3,6% (+8.050 Ster) so với cùng kỳ năm trước. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán trên địa bàn tỉnh đạt 3.720 nghìn cây

- Công tác phát hiện và xử lý vi phạm: Tính đến 15/10/2022, trên địa bàn tỉnh xảy ra 30 vụ phá rừng trái pháp luật với diện tích thiệt hại là 32,1 ha. Các cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.

1.3. Thuỷ sản

Trong thời gian qua, hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản gắn với các biện pháp bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh luôn được chú trọng; Ngành nông nghiệp tỉnh tiếp tục khuyến khích người dân nuôi thuỷ sản chất lượng cao và đầu tư kỹ thuật vào sản xuất, tuyên truyền, vận động người nuôi chọn giống đạt chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả, đảm bảo chất lượng đầu ra cho sản phẩm.

Ước đến 31/10/2022, diện tích nuôi trồng thủy sản là 797 ha, tăng 8,28% (+61 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thuỷ sản là 5.451 tấn, tăng 7,35 % (+373 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

Sản lượng nuôi trồng nước ngọt là 3.659 tấn, tăng 7,81 % (+265 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng khai thác nước ngọt là 1.792 tấn, tăng 6,41 % (+108 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thủy sản tăng so với cùng kỳ năm trước là do diện tích nuôi trồng thủy sản tăng so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó việc khai thác đánh bắt của các hộ trên lòng hồ thủy lợi, thủy điện, sông suối... thuận lợi nên sản lượng thủy sản trong kỳ tăng lên.

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng Mười năm 2022 cơ bản duy trì ổn định và tiếp tục phục hồi nhanh tăng trưởng trở lại. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Mười ước tính tăng 11,08% so với tháng trước và tăng 18,48% so với cùng kỳ năm trước, do các doanh nghiệp nỗ lực mở rộng sản xuất bù lại khoảng thời gian 2 năm bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, các doanh nghiệp chủ động hơn về lao động và kế hoạch sản xuất kinh doanh, khắc phục khó khăn để phục hồi, mở rộng sản xuất.  Tính chung 10 tháng năm 2022, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 19,38% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,56%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 8,08%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 35,64%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 5,17%.

2.1 Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 10 năm 2022 ước tính tăng 18,48% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó tăng chủ yếu ở ngành sản xuất và phân phối điện (+28,82%); ngành công nghiệp khai khoáng tăng 13,61% do các đơn vị tăng sản lượng khai thác đá để đủ cung cấp cho các công trình xây dựng trên địa bàn; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,17% chủ yếu do lượng tinh bột sắn sản xuất giảm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,82%.

So với tháng trước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 10/2022 ước tính tăng 11,08%. Trong đó tăng chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (+11,12%). Đến tháng 10 hầu hết các nhà máy tinh bột sắn đã thu mua nguyên liệu và hoạt động ổn định sau thời gian nghỉ mùa vụ, lượng tinh bột sắn sản xuất tăng đã làm chỉ số ngành chế biến thực phẩm tăng cao. Ngành sản xuất, phân phối điện tăng 11,17%, chủ yếu do kế hoạch điều tiết sản xuất của ngành điện, hiện tại lượng nước trên các hồ chứa đảm bảo cho các nhà máy hoạt động hết công suất; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải hoạt động ổn định so tháng trước.

Tính chung 10 tháng năm 2022, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 19,38% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,56%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 8,08%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 35,64%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 5,17%.

Chỉ số sản xuất 10 tháng năm 2022 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 35,64%; Khai khoáng khác tăng 10,56%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 9,35%. Ở chiều ngược lại, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất giảm: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 14,24%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế), sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện giảm 16,02%; In, sao chép bản ghi các loại giảm 7,98%; Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 15,72%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 4,59%; Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải; tái chế phế liệu giảm 7,52%...

2.2. Sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp

Ước tính một số sản phẩm sản xuất tháng 10 năm 2022 so với cùng kỳ năm trước như sau: Đá xây dựng khai thác 43.535 m3, tăng 15,16%; Tinh bột sắn ước tính sản xuất 31.595 tấn, giảm 6,36%; Gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn đạt 23 triệu viên, tăng 1,94%; điện sản xuất 324 triệu Kwh, tăng 29,36%.

Tính chung 10 tháng năm 2022 một số sản phẩm chủ yếu có sản lượng tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện sản xuất đạt 2.354 triệu Kwh, tăng 37,49%; Đá xây dựng khác đạt 330.462 m3, tăng 11,70%; Ngói, phiến đá lát đường và các sản phẩm tương tự bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo đạt 228,2 nghìn viên, tăng 6,19%; Bàn bằng gỗ các loại 94.979 chiếc, tăng 0,93% ... Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có sản lượng giảm so với cùng kỳ năm trước: Tinh bột sắn đạt 183.063 tấn, giảm 13,67%; Đường RE đạt 7.188 tấn, giảm 14,18%; Gỗ cưa hoặc xẻ (trừ gỗ xẻ tà vẹt) đạt 24.182 m3, giảm 16,02%; Sản phẩm in khác (quy khổ 13cmx19cm) đạt 140,8 triệu trang, giảm 7,98%; Cồn béo công nghiệp đạt 7829,6 tấn, giảm 16,80%; Gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn đạt 160,1 triệu viên, giảm 0,46%; Cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng, bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo đạt 20.719 tấn, giảm 3,74%; Phân vi sinh đạt 892 tấn, giảm1,65%; Ghế khác có khung bằng gỗ đạt 213.636 chiếc, giảm 7,70%...

2.3. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp thời điểm cuối tháng Mười ước tính tăng 0,19% so với tháng trước và tăng 6,89% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2022, chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tăng 0,82% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lao động đang làm việc trong doanh nghiệp khu vực Nhà nước tăng 9,39%; khu vực ngoài Nhà nước giảm 3,10%. Chia theo ngành kinh tế, lao động đang làm việc trong ngành Khai khoáng giảm 32,48%; Công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 4,56%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí nước tăng 26,49%; Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 11,29% so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình hoạt động sản xuất ngành công nghiệp của các đơn vị, cơ sở trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong tháng 10 và 10 tháng năm 2022 tương đối ổn định và có mức tăng trưởng khá so cùng kỳ năm trước với chỉ số sản xuất toàn ngành tăng 19,38%; một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao như ngành công nghiệp khai thác khoáng sản và ngành sản xuất, phân phối điện; riêng ngành sản xuất phân phối điện có chỉ số sản xuất tăng cao nhất (+35,64%) do một số công trình thủy điện đã hoàn thành và đưa vào vận hành, một mặt năm nay thời tiết trên địa bàn tỉnh tương đối thuận lợi, lượng mưa lớn hơn, các tháng trong năm lượng nước trên các hồ chứa luôn đảm bảo cho các nhà máy hoạt động hết công suất nên sản lượng điện sản xuất tăng cao. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số sản xuất giảm so cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do một số ngành sản xuất như chế biến đường, tinh bột sắn, sản xuất cồn, chế biến gỗ... còn khó khăn trong khâu thu mua nguyên liệu sản xuất, nhất là trong các tháng đầu năm nên sản lượng sản phẩm của các ngành này giảm. Đến tháng 10 tình hình sản xuất của hầu hết các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có thuận lợi và hoạt động ổn định hơn.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[1]

Trong tháng 10 toàn tỉnh có 24 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 129 tỷ đồng, tăng 20% về số doanh nghiệp và giảm 20,15% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2021. Có 06 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; 06 doanh nghiệp đã giải thể; 04 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động.

Tính chung 10 tháng năm 2022 (tính đến ngày 20/10/2022) có 296 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 95,5% kế hoạch và tăng 21,8% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký khoảng 5.629 tỷ đồng, đạt 103,1% kế hoạch và giảm 2,15% so với cùng kỳ. Có 107 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước; 28 doanh nghiệp đã giải thể, giảm 15,15% so với cùng kỳ năm trước; 153 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước.

4. Hoạt động ngân hàng[2]

4.1. Tình hình thực hiện lãi suất

a) Lãi suất huy động: Các TCTD trên địa bàn chấp hành tốt các quy định về lãi suất huy động. Mặt bằng lãi suất huy động tại các TCTD trong tháng tương đối ổn định, trong tháng các TCTD đã điều chỉnh tăng lãi suất huy động từ 1-1,3%/năm so với các tháng trước. Theo đó, mức lãi suất phổ biến đối với kỳ hạn dưới 6 tháng từ 4,1-4,4%/năm; đối với kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng từ 4,7-6,4%/năm; đối với các kỳ hạn trên 12 tháng từ 6,4%- 7,1%/năm. Lãi suất huy động bằng USD thực hiện theo mức quy định tối đa 0% đối với tiền gửi cá nhân và tổ chức.

b) Lãi suất cho vay: Mặt bằng chung lãi suất cho vay trong tháng tiếp tục duy trì ổn định. Mặt bằng lãi suất cho vay ngắn hạn thông thường duy trì ở mức từ 7,0-10,5%/năm; cho vay trung và dài hạn ở mức từ 10-11%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với một số ngành lĩnh vực ưu tiên ở mức 4,5%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD phổ biến ở mức 3%/năm đối với các khoản vay ngắn hạn và một số nhóm đối tượng ưu tiên; cho vay trung và dài hạn phổ biến ở mức 5,0-6,8%/năm.

4.2. Hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng

a) Hoạt động huy động vốn: Tổng nguồn vốn huy động toàn địa bàn đến 31/10/2022 ước đạt 18.900 tỷ đồng tăng 1,2% (+ 219 tỷ đồng) so với thời điểm cuối năm 2021, tăng 0,7% (+ 124 tỷ đồng) so với tháng trước. Trong đó, nguồn vốn huy động trên 12 tháng ước đạt 2.650 tỷ đồng (chiếm 14,0% tổng nguồn vốn huy động) giảm 56,0% so với thời điểm 31/12/2021. Phân theo loại tiền tệ, nguồn vốn huy động bằng tiền gửi VND ước đạt 18.540 tỷ đồng, chiếm 98,1% tổng nguồn vốn huy động; nguồn vốn huy động bằng tiền gửi ngoại tệ ước đạt 140 tỷ đồng, chiếm 0,7% tổng nguồn vốn huy động. Tiền gửi tiết kiệm ước đạt 15.100 tỷ đồng, chiếm 79,9% tổng nguồn vốn huy động, tăng 4,7% (+671 tỷ đồng) so với đầu năm, tiền gửi thanh toán ước đạt 3.580 tỷ đồng, chiếm 18,9% tổng nguồn vốn huy động, giảm 5,2% (-195 tỷ đồng) so với đầu năm. Phát hành giấy tờ có giá ước đạt 220 tỷ đồng, chiếm 1,2% tổng nguồn vốn huy động.

Thời gian qua, các TCTD trên địa bàn đã tích cực triển khai nhiều biện pháp, chương trình khuyến mại để thu hút tiền nhàn rỗi trong dân cư, mặc dù lãi suất huy động vẫn ở mức thấp nhưng hoạt động huy động vốn vẫn có mức tăng trưởng khá, đảm bảo đáp ứng nhu cầu cấp tín dụng trên địa bàn, tuy nhiên, còn một số TCTD vẫn gặp khó khăn trong công tác huy động, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động toàn địa bàn còn khá khiêm tốn so với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên.

b) Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ tín dụng toàn địa bàn ước đến 31/10/2022 đạt 42.000 tỷ đồng, tăng 9,3% (+ 3.561 tỷ đồng) so với đầu năm, và tăng 0,8% (+314 tỷ đồng) so tháng trước. Trong đó, dư nợ ngắn hạn ước đạt 25.600 tỷ đồng, chiếm 61,0% tổng dư nợ; dư nợ trung dài hạn ước đạt 16.400 tỷ đồng, chiếm 39,0% tổng dư nợ; Cơ cấu tín dụng theo loại tiền tệ được duy trì tương đối ổn định, dư nợ cấp tín dụng bằng VND vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu, ước đạt 41.850 tỷ đồng, chiếm 99,6% tổng dư nợ, dư nợ bằng ngoại tệ không đáng kể. Cơ cấu tín dụng tiếp tục được tập trung vào sản xuất kinh doanh, các ngành nghề là thế mạnh của địa phương, các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ.

5. Vốn đầu tư

Trong tháng Mười, vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước tiếp tục được các đơn vị và địa phương nỗ lực triển khai, giải ngân vốn đầu tư công được đẩy mạnh thực hiện trong bối cảnh các hoạt động sản xuất kinh doanh phục hồi nhanh. Tình hình triển khai thực hiện các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh nhìn chung đúng theo kế hoạch vốn đã được giao từ nguồn vốn chuyển từ năm 2021 và nguồn vốn theo kế hoạch trung và dài hạn.

Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong tháng 10 năm 2022 đạt 374,59 tỷ đồng, tăng 61,48% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý, bao gồm: Nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 325,5 tỷ đồng, chiếm 86,89% trong tổng số nguồn vốn; Nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 49,1 tỷ đồng, chiếm 13,11% trong tổng số nguồn vốn.

Tính chung 10 tháng năm 2022  vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum đạt 2.463,41 tỷ đồng, tăng 11,54% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là do các ngành, các cấp trên địa bàn tỉnh đã chủ động triển khai đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công nên vốn đầu tư tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý, Chia ra:

- Nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 1.971,77 tỷ đồng, tăng 4,88% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 80,04% trong tổng số nguồn vốn. Chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng trên địa bàn tỉnh về lĩnh vực thuỷ lợi, giao thông, giáo dục, y tế, cấp nước sinh hoạt nông thôn, đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, ... Trong đó: nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 876,26 tỷ đồng; nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu 828,24 tỷ đồng; nguồn vốn ODA đạt 171,07 tỷ đồng; nguồn vốn Xổ số kiến thiết đạt 49,34 tỷ đồng; nguồn vốn khác đạt 46,85 tỷ đồng.

- Nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 491,64 tỷ đồng, tăng 49,70 % so với cùng kỳ năm trước, chiếm 19,96% trong tổng số nguồn vốn. Chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn như đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa... trên địa bàn các huyện, thành phố thuộc tỉnh, trong đó: vốn cân đối ngân sách huyện đạt 282,16 tỷ đồng; nguồn vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 201,25 tỷ đồng và nguồn vốn khác đạt 8,23 tỷ đồng. 

Nhìn chung, trong 10 tháng năm 2022 tình hình triển khai thực hiện các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh tiếp tục triển khai đúng theo kế hoạch vốn đã được giao từ nguồn vốn chuyển từ năm 2021 và nguồn vốn theo kế hoạch trung và dài hạn, bên cạnh đó nguồn vốn theo kế hoạch năm 2022 đang được các đơn vị triển khai các khâu chuẩn bị thực hiện dự án. Cụ thể một số dự án trọng điểm như: Đường giao thông kết nối từ Đường Hồ Chí Minh đi Quốc Lộ 24; Đường Giao thông tiếp nối tỉnh lộ 674 đi đường tuần tra Biên giới xã Mo Ray huyện Sa Thầy, Đường trục chính phía tây thành phố Kon Tum, Đường vào Trụ sở làm việc các cơ quan thành phố Kon Tum, Đường Trường Chinh (đoạn từ đường Phan Đình Phùng đến đường Đào Duy Từ)…

6. Thương mại, dịch vụ

Hoạt động thương mại và dịch vụ tháng Mười khá sôi động phục hồi ở tất cả các ngành. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười tăng 0,71% so cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng đầu năm 2022 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 22,06% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tổng mức bán lẻ hàng hoá tăng 23,20%.

6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 10 năm 2022 đạt 2.212,31 tỷ đồng, giảm 5,68% so với tháng trước và tăng 0,71% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 1.908,31 tỷ đồng, chiếm 86,26% trong tổng số, giảm 6,44% so với tháng trước và tăng 0,44% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 186,61 tỷ đồng, chiếm 8,44% trong tổng số, tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 117,38 tỷ đồng, chiếm 5,31% trong tổng số, giảm 3,12% so với tháng trước và tăng 1,12% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 10 năm 2022 giảm so với tháng trước là do tình hình bão lũ vừa qua cũng ảnh hưởng một phần đến việc giao hàng, vận chuyển hàng hoá của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn tỉnh ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh, dịch vụ và du lịch.

Tính chung 10 tháng năm 2022 tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh ước tính đạt 26.152,9 tỷ đồng, tăng 22,06% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 22.634,95  tỷ đồng, chiếm 86,55% trong tổng số, tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 11 nhóm hàng hóa có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm 2021, đặc biệt có một số nhóm doanh thu tăng khá cao như: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm (+23,91%); hàng may mặc (+18,12%); đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình (+12,11%); Vật phẩm văn hóa, giáo dục (+18,83%); Gỗ và vật liệu xây dựng (+17,94%); Ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) (+12,36%); Phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) (+7,16%); Xăng, dầu các loại (+116,41%); Nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) (-65,16%); Đá quý, kim loại quý và sản phẩm (+1,11%); Hàng hoá khác (+2,67%); Doanh thu dịch vụ sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác (+ 29,52%).

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 2.118,31 tỷ đồng, chiếm 8,1% trong tổng số và tăng 26,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 103,959 tỷ đồng, tăng 101,02%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 2.012,807 tỷ đồng, tăng 24,25%; doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành và các dịch vụ hỗ trợ đạt 1,546 tỷ đồng tăng 195,5% so với cùng kỳ năm 2021 .

- Doanh thu dịch vụ khác đạt 1.399,64 tỷ đồng, chiếm 5,35% trong tổng số, tăng 1,27% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó một số dịch vụ có mức tăng cao so với cùng kỳ năm trước phải kể đến như: Dịch vụ giáo dục và đào tạo (+51,79%); dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí (+12,9%); dịch vụ hành chính và dịch vụ hổ trợ (+32,83%); Dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (+34,70%); Dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ (+32,83%)...

Nguyên nhân tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính 10 tháng năm 2022 tăng là do hoạt động thương mại và dịch vụ tiêu dùng trong năm có xu hướng phục hồi khi dịch Covid-19 được kiểm soát, cầu tiêu dùng của người dân đã tăng trở lại; Các doanh nghiệp đã sẵn sàng thích ứng an toàn với dịch Covid-19, linh hoạt trong hoạt động để sản xuất kinh doanh, dịch vụ lưu trú, ăn uống và dịch vụ du lịch lữ hành phục hồi mạnh mẽ so với năm trước, đời sống sinh hoạt của người dân trở về trạng thái bình thường của những năm trước dịch Covid-19.

6.2. Hoạt động vận tải, kho bãi

Hoạt động vận tải hành khách trong tháng Tám có chiều hướng giảm so với tháng trước, do lượng khách đi du lịch và về thăm quê giảm dần sau tháng cao điểm mùa du lịch. Vận tải hàng hóa duy trì đà phục hồi từ những tháng trước với sản lượng vận chuyển hàng hoá tăng. Tính chung 8 tháng đầu năm 2022, vận chuyển hành khách tăng 6,57%, luân chuyển hành khách tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hàng hóa tăng 32,3%, luân chuyển hàng hóa tăng 30,51% so với cùng kỳ năm trước.

6.2.1. Kết quả hoạt động vận tải, kho bãi ước tính tháng 10 năm 2022

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính tháng 10 năm 2022 đạt 181.106 triệu đồng, giảm 1,56% so với tháng trước và tăng 36,9% so cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

- Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 49.499 triệu đồng (so với tháng trước giảm 1,08%), so với cùng kỳ năm trước tăng 102,17%; Vận chuyển ước đạt 792 nghìn lượt khách, tăng 77,84%; Luân chuyển ước đạt 103.941 nghìn lượt khách.km, tăng 76,57%.

- Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước đạt 130.626 triệu đồng (so với tháng trước giảm 1,77%), so với cùng kỳ năm trước tăng 21,87%; Vận chuyển ước đạt 1.373 nghìn tấn, tăng 18,78%; Luân chuyển ước đạt 70.036 nghìn tấn.km, tăng 21,21%.

- Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu ước đạt 981 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng 59,51%.

Hoạt động vận chuyển hành khách giảm so với tháng trước là do nhu cầu đi lại của người dân giảm.

Hoạt động vận chuyển hành khách tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước là do cùng thời điểm năm trước ảnh hưởng dịch Covid-19.

Hoạt động vận chuyển hàng hóa giảm so với tháng trước là do hoạt động vận chuyển hàng hóa phục vụ ngành xây dựng và nông nghiệp giảm do trong tháng thời tiết mưa nhiều và một số sản phẩm nông nghiệp chưa vào mùa thu hoạch.

Hoạt động vận chuyển hàng hóa tăng so với cùng kỳ năm trước là do một số cơ sở kinh doanh vận tải hàng hóa đầu tư trang bị thêm các dòng xe mới có trọng tải lớn và do tháng 10 năm 2021 ảnh hưởng dịch Covid-19.

6.2.2. Kết quả hoạt động vận tải, kho bãi ước tính 10 tháng năm 2022

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính 10 tháng năm 2022 đạt 1.782.546 triệu đồng, tăng 37,84% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

- Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 463.674 triệu đồng, tăng 28,59%; Vận chuyển ước đạt 7.988 nghìn lượt khách, tăng 18,63%; Luân chuyển ước đạt 1.042.966 nghìn lượt khách.km, tăng 19,68%.

- Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước đạt 1.309.869 triệu đồng, tăng 41,45%; Vận chuyển ước đạt 13.922 nghìn tấn, tăng 33,47%; Luân chuyển ước đạt 700.762 nghìn tấn.km, tăng  32,02%.

- Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu ước đạt 9.003 triệu đồng, tăng  36,03%.

7. Giá cả thị trường   

7.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 năm 2022 tăng 0,09% so với tháng trước; tăng 2,82% so với cùng tháng năm trước; tăng 3,38% so với tháng 12 năm trước; tăng 7,68% so với kỳ gốc 2019; CPI bình quân 10 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,54%.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, so với tháng trước có 06 nhóm tăng là nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,67%; nhóm Đồ uống và thuốc lá tăng 0,13%; nhóm May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,35%; nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; nhóm Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,5%; nhóm Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,28%. Có 03 nhóm giảm là nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,01%; nhóm Giao thông giảm 2,68%; nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,49%. Có 02 nhóm không biến động giá là nhóm Giáo dục và nhóm thuốc và dịch vụ y tế.

Cụ thể chỉ số các nhóm hàng so với tháng trước như sau:

- Sáu nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:

(1) Chỉ số nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,67%, trong đó:

+ Nhóm lương thực: Chỉ số nhóm lương thực tăng 0,77%, riêng chỉ số nhóm gạo tăng 1,0%, trong đó gạo tẻ thường tăng 0,99%, gạo tẻ ngon tăng 0,51%, gạo nếp tăng 2,14%, nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng giá xuất khẩu gạo tăng và nhu cầu tiều tiêu dùng gạo nếp tăng mạnh dùng chế biến một số sản phẩm chuẩn bị cho Tết Nguyên đán. Nhóm bột mì và ngũ cốc khác tăng 2,75%, trong đó bột mỳ tăng 2,19%, ngô tăng 2,05%, khoai tăng 2,19%, sắn tăng 4,45% là do nhu cầu tiêu dùng tăng nên giá tăng theo.

+ Nhóm thực phẩm: Chỉ số nhóm thực phẩm tăng 0,78%, cụ thể: nhóm thịt gia súc tươi sống tăng 0,28%, trong đó thịt lợn tăng 0,3%, thịt bò tăng 0,31%. Giá thịt lợn tăng nhẹ là do nhu cầu tiêu dùng tăng nên làm cho giá tăng theo quy luật cung cầu. Nhóm thịt gia cầm tăng 0,26%, trong đó thịt gà tăng 0,31% là do nhu cầu tiêu dùng tăng. Nhóm thịt chế biến tăng 0,14%, trong đó thịt quay, giò chả tăng 0,16%. Nhóm trứng các loại giảm 0,05%, trong đó trứng tươi các loại giảm 0,05%. Nhóm dầu, mỡ ăn và chất béo khác tăng 0,31%, trong đó dầu thực vật tăng 0,52%.

Nhóm thủy sản tươi sống giảm 0,24% là do nhóm cá tươi hoặc ướp lạnh giảm 1,82%; thủy, hải sản tươi sống khác giảm 0,25%, nguyên nhân chủ yếu là do lượng cung tăng nên làm cho giá giảm. Nhóm nước mắm, nước chấm giảm 0,59% là do các cơ sở kinh doanh giảm giá bán sau nhiều tháng tăng giá.

Nhóm rau tươi, khô và chế biến tăng 5,3%, trong đó bắp cải tăng 8,03% (tăng từ 1.500 đồng – 2.000 đồng/kg), cà chua tăng 11,11% (tăng từ 1.000 đồng – 3.000 đồng/kg), rau muống tăng 3,14%, đỗ quả tươi tăng 10,8%, rau tươi khác tăng 6,16%, rau chế biến các loại tăng 6,98%, su hào tăng 3,73%, nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu tiêu dùng tăng đồng thời lượng cung giảm do các sản phẩm trên trái vụ và trong tháng thời tiết mưa nhiều nên năng suất giảm.

Nhóm quả tươi, chế biến tăng 1,37%, trong đó quả có múi tăng 1,16%, xoài tăng 1,21%, chuối tăng 1,1%, táo tăng 1,85%, nguyên nhân là do nhu cầu tiêu dùng tăng đồng thời các sản phẩm trái vụ.

Nhóm đồ gia vị tăng 0,11%, trong đó bột nêm, bột canh, viên súp tăng 0,53%; Nhóm sữa, bơ, pho mai tăng 1,04%, trong đó sữa tươi tăng 1,09%, sữa bột người lớn tăng 1,27%, kem tăng 3,44%, nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu tiêu dùng tăng nên làm cho giá tăng theo.

 Nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 0,27%, trong đó ăn ngoài gia đình tăng 0,16%, đồ ăn nhanh mang đi tăng 1,44%, nguyên nhân chủ yếu là do chi phí nguyên liệu đầu vào tăng.

(2) Chỉ số nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,13%, tác động tăng chủ yếu là do nhóm rượu bia tăng 0,28%, trong đó bia các loại tăng 0,32%, rượu các loại tăng 0,2%. Nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu tiêu dùng tăng.

(3) Chỉ số nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,35%, trong đó nhóm quần áo may sẵn tăng 0,22%, vải các loại tăng 0,44%, nhóm dịch vụ giầy, dép tăng 0,58%, nhóm mũ nón tăng 0,22%. Nguyên nhân là do nhu cầu mua sắm tăng nên các cơ sở kinh doanh tăng giá theo quy luật cung cầu.

 (4) Chỉ số nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%, tăng chủ yếu là do đồ nhựa và cao su tăng 1,48%; hàng dệt trong nhà tăng 0,26%; đồ điện tăng 0,13%; tủ lạnh tăng 0,07%; dịch vụ trong gia đình tăng 1,58%. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng trên tăng nên làm giá tăng theo.

 (5) Chỉ số nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,5% là dịch vụ văn hóa tăng 1,53%, trong đó phí truyền hình và internet tăng 2,38%. Riêng thiết bị văn hóa giảm 0,58%, trong đó tivi màu giảm 0,61%, nguyên nhân là do các cơ sở kinh doanh giảm giá kích cầu.

(6) Chỉ số nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,28% là do nhóm đồ dùng cá nhân tăng 1,68%, trong đó dụng cụ cá nhân không dùng điện tăng 2,52%, hàng chăm sóc cơ thể tăng 2,09%, nguyên nhân chủ yếu là do các cơ sở kinh doanh dịch vụ tăng giá.

- Ba nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm:

(1) Chỉ số nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,01%, tác động chính là do nhóm gas và các loại chất đốt khác giảm 3,05%, trong đó  gas giảm 4,24% (giảm 18000 đồng/ bình 12kg từ ngày 01/10/2022). Riêng giá dầu hỏa qua ba đợt điều chỉnh giá xăng dầu vào các ngày 03,11,21 tháng 10 giảm 5,16%; điện sinh hoạt giảm 0,02% là do trong tháng thời tiết mát mẻ nên nhu cầu tiêu dùng giảm làm cho giá bình quân giảm.

(2) Chỉ số nhóm giao thông giảm 2,68%, đây là nhóm giảm mạnh nhất trong các nhóm giảm, tác động chính là do nhóm nhiên liệu giảm 5,86%, là do trong tháng có các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu ngày 03/10/2022, ngày 11/10/2022 và ngày 21/10/2022, tính bình quân so với tháng trước thì chỉ số giá xăng giảm 6,13%, dầu diezel 0,05S-II giảm 0,61%.

(3) Chỉ số nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,49% là do thiết bị điện thoại giảm 1,39%, trong đó máy điện thoại di động thông thường giảm 1,61%, máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 0,6%, nguyên nhân là do các cơ sở kinh doanh giảm giá khuyến mãi nhiều dòng điện thoại di động để kích cầu.

- Hai nhóm không biến động giá:  Các mặt hàng nhóm giáo dục; thuốc và dịch vụ y tế không có biến động về giá.

7.2. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh

Giá vàng biến động theo giá vàng thế giới và trong nước với xu hướng giảm so với tháng trước, giá vàng 9999 trên địa bàn tỉnh tháng 10/2022 được bán với giá bình quân khoảng 6.313.000 đồng/chỉ, giảm 0,41% so với tháng trước; tỷ giá USD/VND bình quân giao dịch ở mức 24.195 đồng/USD, tăng 1,87%.

Chỉ số giá vàng tháng Mười năm 2022 giảm 0,41% so với tháng trước; tăng 15,64% so với cùng kỳ năm trước; tăng 9,05% so với tháng 12 năm trước; bình quân 10 tháng tăng 18,07% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng Mười năm 2022 tăng 1,87% so với tháng trước; tăng 5,85% so với cùng kỳ năm trước; tăng 5,18% so với tháng 12 năm trước; bình quân 10 tháng tăng 1,33% so với cùng kỳ năm trước.

8. Một số tình hình xã hội

8.1. Về y tế

a) Tình hình dịch bệnh trong tháng

Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (Covid-19): Trong tháng, không có ca tử vong, ghi nhận 55 ca mắc mới, giảm 66 ca so với tháng trước. Lũy tích tổng số ca mắc từ đầu năm 2022 đến ngày 30/9/2022 ghi nhận 29.648 ca mắc. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh chưa ghi nhận trường hợp mắc biến thể mới của SARS-CoV-2.

Tay - chân - miệng: Trong tháng, ghi nhận 08 ca mắc mới (thành phố Kon Tum 04 ca, Đăk Glei 02 ca, Kon Rẫy 01 ca, Ia H’Drai 01 ca), giảm 04 ca so với tháng trước và tăng 06 ca so với tháng 9/2021. Lũy tích đến 30/9/2022, không có tử vong, ghi nhận 57 ca mắc, giảm 04 ca so với cùng kỳ năm trước.

Thủy đậu: Trong tháng, không có tử vong, ghi nhận 06 ca mắc mới (Tu Mơ Rông 02 ca, Kon Rẫy 04 ca), tăng 02 ca so với tháng trước và giảm 02 ca so với tháng 9/2021. Lũy tích đến 30/9/2022, không có tử vong, ghi nhận 121 ca, giảm 136 ca so với cùng kỳ năm trước.

Quai bị: Trong tháng, ghi nhận 04 ca mắc (Đăk Glei 01 ca, Tu Mơ Rông 02 ca, Kon Rẫy 01 ca), tăng 01 ca so với tháng trước và tăng 01 ca so với tháng 9/2021. Lũy tích đến 30/9/2022, không có tử vong, ghi nhận 29 ca mắc, giảm 22 ca  so với cùng kỳ năm trước.

Sốt xuất huyết Dengue: Trong tháng, ghi nhận 33 ổ dịch mới (thành phố Kon Tum 04, Đăk Tô 10, Ngọc Hồi 11, Đăk Glei 01, Kon Plông 02, Sa Thầy 02, Ia H’Drai 03). Lũy tích đến 30/9/2022, ghi nhận 181 ổ dịch. Trong tháng, không có tử vong, ghi nhận 141 ca mắc mới (thành phố Kon Tum 41 ca, Đăk Hà 02 ca, Đăk Tô 14 ca, Ngọc Hồi 51 ca, Đăk Glei 19 ca, Tu Mơ Rông 01 ca, Kon Rẫy 03 ca, Kon Plông 02 ca, Sa Thầy 04 ca, Ia H’Drai 04 ca), giảm 53 ca so với tháng trước và tăng 51 ca so với tháng 9/2021. Lũy tích đến 30/9/2022, không có  tử vong, ghi nhận 661 ca mắc mới, tăng 104 ca so với cùng kỳ năm trước.

Sốt rét: Trong tháng, không có ca tử vong, không ghi nhận ca mắc mới, giảm 01 ca so với tháng trước và bằng so với tháng 9/2021. Lũy tích đến 30/9/2022, không có tử vong, không có mắc sốt rét ác tính, ghi nhận 04 ca mắc (Ia H’Drai 02 ca, Tu Mơ Rông 01 ca, Sa Thầy 01 ca), tăng 01 ca so với cùng kỳ năm trước.

Bệnh viêm gan vi rút A: Trong tháng, không ghi nhận ca mắc mới. Lũy tích đến 30/9/2022, không có tử vong, ghi nhận 06 ca mắc (thành phố Kon Tum 02 ca, Đăk Tô 01 ca, Sa Thầy 03 ca), tăng 06 ca so với cùng kỳ năm trước.

Trong 9 tháng đầu năm 2022, không ghi nhận mắc mới các bệnh: Cúm A (H5N1, H7N9...), Hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do vi rút Corona (MERS-CoV), Đậu mùa khỉ, Cúm A(H1N1), Bệnh do vi rút Zika, Viêm não Nhật Bản, Bạch hầu, Dại, Ho gà, Sởi.

Phòng chống lao, phong: Tổng số bệnh nhân lao đăng ký điều trị 32 người, trong đó lao phổi AFB (+) 20 người. Phát hiện 01 bệnh nhân phong mới (xã Đăk Rơ Nga, huyện Đăk Tô); tổng số bệnh nhân phong đang quản lý 163 người; quản lý và điều trị bệnh nhân phong tại khu điều trị phong Đăk Kia (là trại viên) đang quản lý 54 người.

b) Tiêm chủng mở rộng: Triển khai tiêm vắc xin bại liệt tiêm (IPV2) cho trẻ em dưới 01 tuổi quy mô nhỏ trong chương trình tiêm chủng mở rộng, kết quả đến 30/9/2022 có 2.179/2.520 trẻ được tiêm, đạt tỷ lệ 84,6%; đảm bảo an toàn tiêm chủng, không ghi nhận tai biến nặng sau tiêm.

Triển khai các đợt tiêm vắc xin phòng Covid-19 liều nhắc lại cho người từ 12 tuổi trở lên và tiêm liều cơ bản cho trẻ từ 5 đến dưới 12 tuổi, kết quả đến 05/10/2022:

- Kết quả tiêm nhóm đối tượng từ 18 tuổi trở lên: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt 99,72%; tỷ lệ tiêm mũi 2 đạt 98,73%; tỷ lệ tiêm liều bổ sung đạt 96,63%; tỷ lệ tiêm liều nhắc lại lần 1 đạt 91,39%; tỷ lệ tiêm liều nhắc lại lần 2 đạt 97,53%.

- Kết quả tiêm nhóm đối tượng từ 12 đến 17 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt 100%; tỷ lệ tiêm mũi 2 đạt 97,42%; tỷ lệ tiêm liều nhắc lại đạt 90,76%.

- Kết quả tiêm nhóm đối tượng từ 5 đến dưới 12 tuổi: Tỷ lệ tiêm mũi 1 đạt 100%; tỷ lệ tiêm mũi 2 đạt 87,01%.

c) Phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, không ghi nhận ca nhiễm HIV mới. Lũy tích đến ngày 30/9/2022, tổng số nhiễm HIV/AIDS 552 người, trong đó tử vong 200 người và còn sống 352 người (quản lý được 194 người). Tổng số bệnh nhân đang được điều trị ARV 157 người (9 trẻ em), đang điều trị dự phòng lao bằng Isoniazid 02 người. Số bệnh nhân đang điều trị Methadone 40 người. số lượt uống thuốc 1.193 lượt.

d) Truyền thông, giáo dục sức khỏe: Ban hành Kế hoạch số 4015/KH-SYT ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Sở Y tế về việc triển khai chiến dịch truyền thông phòng chống dịch Covid-19 trong tình hình mới với chủ đề “Vì một Việt Nam vững vàng và khỏe mạnh”.

 Sở Y tế phối hợp với Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh và thành phố Kon Tum thực hiện 01 phóng sự tuyên truyền về an toàn thực phẩm dịp Tết Trung thu 2022. Tổ chức 24 buổi truyền thông nhóm về phòng chống bệnh dại, phối hợp tuyên truyền về phòng chống sốt xuất huyết Dengue, thông điệp 2K (Khẩu trang, Khử khuẩn) + Vắc xin + Thuốc + Điều trị + Công nghệ + Ý thức người dân và các biện pháp khác của Bộ Y tế. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền các chủ đề trọng tâm tháng 9/2022: Phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết, tiêm vắc xin phòng Covid-19, bệnh dại; Chiến dịch truyền thông phòng chống dịch Covid-19 trong tình hình mới với chủ đề “Vì một Việt Nam vững vàng và khỏe mạnh; Phòng chống dịch bệnh sau mùa bão lụt; An toàn thực phẩm dịp Tết trung thu năm 2022; Ngày Tim mạch thế giới (29/9); Ngày An toàn người bệnh thế giới (19/9).

e) An toàn vệ sinh thực phẩm: Tiếp tục triển khai hoạt động truyền thông về an toàn thực phẩm. Tổ chức tập huấn các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, bếp ăn tập thể, cung cấp thực phẩm tươi sống, kinh doanh thực phẩm chức năng . Giám sát an toàn thực phẩm phục vụ Đoàn đại biểu cao cấp tỉnh Salavan, Nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào. Cấp 38 Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm (cấp mới 35, cấp lại 03); tiếp nhận bản tự công bố của 03 sản phẩm.

Kiểm tra liên ngành về an toàn thực phẩm Tết Trung thu năm 2022 tại 45 cơ sở (02 cơ sở sản xuất thực phẩm, 43 cơ sở kinh doanh thực phẩm); Hầu hết cơ sở chấp hành tốt quy định. Kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm đối với 39 bếp ăn tập thể trường học đợt 1 năm học 2022 – 2023, tiến hành làm test nhanh 26 mẫu thực phẩm với 29 test âm tính (01 hypochlorid, 03 nitrat, 18 sulfite, 01 thuốc trừ sâu, 04 urê, 02 độ ôi khét); hầu hết các cơ sở chấp hành tốt quy định về an toàn thực phẩm.

Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong tháng, xảy ra 03 trường hợp ngộ độc thực phẩm do ăn uống không bảo đảm vệ sinh.

Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum đã ban hành Công văn về việc tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh sốt xuất huyết Dengue ; Công văn về việc đảm bảo thuốc, trang thiết bị y tế để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh .

8.2. Về giáo dục

Sáng 17/10, Trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum phối hợp với Viện Đào tạo và Phát triển nhân lực (thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) tổ chức khai mạc khảo sát chính thức đánh giá ngoài nhà trường và chương trình đào tạo ngành, nghề trồng trọt trình độ trung cấp. Đánh giá ngoài cơ sở giáo dục nghề nghiệp và chương trình đào tạo ngành, nghề trồng trọt, trình độ trung cấp tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum có ý nghĩa hết sức quan trọng. Qua đánh giá sẽ giúp nhà trường có điều kiện đánh giá được toàn bộ hoạt động một cách toàn diện, từ đó khắc phục những tồn tại, cải thiện và nâng cao năng lực quản lý trong các hoạt động của nhà trường.

Sáng 13/10, tại thị trấn Măng Đen (huyện Kon Plông), Chi nhánh Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội tại Kon Tum (Viettel Kon Tum) tổ chức Lễ trao học bổng “Vì em hiếu học” năm 2022- 2023 cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập. Năm học 2022- 2023, Viettel Kon Tum quyết định trao tặng 570 suất học bổng cho các em học sinh ở Năm học 2022- 2023 tại 57 xã trên địa bàn tỉnh với tổng giá trị hơn 1.140 triệu đồng (mỗi suất 2 triệu đồng). Theo đó, mỗi xã sẽ thực hiện trao 10 suất học bổng, trong đó có 5 suất cho học sinh tiểu học; 5 suất cho học sinh trung học.

Trước diễn biến phức tạp của bão Noru, chiều ngày 26/9/2022, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Kon Tum (Sở GDĐT) đã có Công văn số 1902/SGDĐT-VP cho học sinh nghỉ học để phòng, chống, ứng phó với bão Noru và mưa lớn trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Sở GDĐT yêu cầu các đơn vị trực thuộc Sở, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên các huyện, Phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện, thành phố chỉ đạo triển khai các trường học thuộc quyền quản lý khẩn trương thông báo cho học sinh được nghỉ học từ ngày 27/9/2022 để phòng chống, ứng phó bão và mưa lũ, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất. Ngày 30/9/2022 Sở GDĐT chỉ đạo các cơ sở giáo dục đã đảm bảo các điều kiện an toàn tiến hành dạy học trở lại bình thường. Riêng các địa bàn chia cắt, trường học bị ảnh hưởng chưa kịp thời khắc phục thì UBND các huyện, thành phố quyết định thời điểm dạy học phù hợp.

Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum đã ban hành Công văn về việc tăng cường triển khai công tác hỗ trợ, tư vấn tâm lý cho học sinh phổ thông ; Công văn về việc tăng cường điều kiện đảm bảo thực hiện hiệu quả chất lượng giáo dục mầm non, phổ thông .

8.3. Về văn hóa, thể dục thể thao

Sáng 14/10/2022, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Khai mạc Giải vô địch bóng bàn các nhóm tuổi tỉnh Kon Tum năm 2022, Giải diễn ra trong 3 ngày (từ 14-16/10/2022).Tham gia giải có 150 vận động viên của 14 đơn vị, cơ quan, địa phương, các CLB bóng bàn trên địa bàn tỉnh. Giải vô địch bóng bàn toàn tỉnh nằm trong hệ thống thi đấu các giải thi đấu thể thao cấp tỉnh hàng năm nhằm góp phần thúc đẩy phong trào rèn luyện TDTT nói chung và môn bóng bàn nói riêng trong cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Qua đó, tuyển chọn các vận động viên xuất sắc tham gia các giải thi đấu bóng bàn cấp khu vực, cấp quốc gia do Tổng cục TDTT tổ chức.

Tối 23/9/2022, tại Nhà rông Kon K’lor (phường Thắng Lợi), UBND thành phố Kon Tum tổ chức khai mạc Hội thi cồng chiêng, xoang các DTTS thành phố lần thứ I-2022. Đây là một trong những hoạt động văn hóa chào mừng kỷ niệm 92 năm Ngày truyền thống Đảng bộ tỉnh Kon Tum (25/9/1930-25/9/2022). Hội thi cồng chiêng, xoang các DTTS thành phố Kon Tum là sự kiện văn hóa quan trọng, nhằm tôn vinh, gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị, bản sắc văn hóa của đồng bào DTTS trên địa bàn thành phố, góp phần tôn vinh Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên - di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.Hội thi diễn ra đến hết ngày 24/9/2022.

Ngày 23/9/2022, Đoàn Khối cơ quan và doanh nghiệp tỉnh tổ chức Khai mạc giải bóng đá mini nam, nữ 5 người năm 2022. Tham dự giải đấu có 19 đội bóng cùng hơn 200 vận động viên là đoàn viên, thanh niên đến từ các tổ chức cơ sở đoàn trực thuộc. Giải đấu được tổ chức nhằm tạo sân chơi lành mạnh, rèn luyện sức khỏe, xây dựng tình đoàn kết cho các đoàn viên, thanh niên và chào mừng thành công Đại hội Đoàn các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Kon Tum lần thứ XV, nhiệm kỳ 2022-2027.

Tối 22/9/2022, UBND huyện Tu Mơ Rông tổ chức tổng kết Cuộc vận động Sáng tác văn học – nghệ thuật huyện Tu Mơ Rông lần thứ I năm 2022 (Cuộc vận động). Sau hơn 7 tháng triển khai, Cuộc vận động được tổ chức nghiêm túc và đảm bảo đúng tiến độ. Công tác thông tin, tuyên truyền đã được các cơ quan, đơn vị thực hiện tương đối kịp thời và rộng khắp, thu hút được đông đảo văn nghệ sỹ tham gia với 250 tác phẩm của 31 tác giả với 4 thể loại (nhạc, nhiếp ảnh, mỹ thuật, văn học), đã lột tả được quá trình phát triển đổi mới của vùng đất Tu Mơ Rông theo đúng yêu cầu Cuộc vận động đề ra.

Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum đã ban hành Công văn về việc triển khai các hoạt động du lịch năm 2022; Công văn về việc tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa nghệ thuật, lễ hội, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, phục hồi và phát triển du lịch .

8.4. Tình hình trật tự an toàn xã hội ở địa phương

Công tác đấu tranh ngăn chặn, xử lý các loại tội phạm tiếp tục được chỉ đạo thực hiện quyết liệt. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Hoạt động của tội phạm theo băng, nhóm, tội phạm liên quan đến “tín dụng đen” được đấu tranh, triệt xóa, không có băng, nhóm hoạt động phức tạp, gây bức xúc trong dư luận, cụ thể:

Phạm tội về trật tự xã hội: Trong tháng, phát hiện 38 vụ (giảm 01 vụ so tháng trước), hậu quả, thiệt hại: 01 người chết; 08 người bị thương, thiệt hại về tài sản khoảng 660 triệu đồng.

Phạm tội về trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng và chức vụ: Phát hiện 01 vụ Tàng trữ hàng cấm trên địa bàn huyện Ngọc Hồi (giảm 02 vụ so tháng trước).

Phạm tội về ma túy: Phát hiện 11 vụ (tăng 05 vụ so tháng trước), gồm: Tàng trữ trái phép chất ma túy 09 vụ; Tổ chức sử dụng + Tàng trữ trái phép chất ma túy 01 vụ; Mua bán trái phép chất ma túy 01 vụ. Thu giữ 23,936g ma túy tổng hợp.

Tình hình trật tự, an toàn giao thông: Xảy ra 02 vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng làm chết 02 người, bị thương 01 người (giảm 05 vụ, 05 người chết, 06 người bị thương so tháng trước). Thiệt hại về tài sản: Hư hỏng 03 mô tô, ước tính khoảng 08 triệu đồng.

Tình hình cháy, nổ, sự cố, tai nạn: Xảy ra 01 vụ cháy trường học trên địa bàn huyện Đăk Glei (tăng 01 vụ so tháng trước). Nguyên nhân: Do sét đánh, không thiệt hại về người, thiệt hại về tài sản không đáng kể.

Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum đã ban hành Công văn về việc tăng cường kiểm soát, phòng ngừa thẩm lậu, mua bán, tàng trữ trái phép ma túy trên địa bàn tỉnh.

8.5. Tình hình môi trường

a) Vi phạm môi trường

Trong tháng phát hiện 01 vụ vi phạm về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn huyện Ngọc Hồi.

b) Tình hình thiên tai

- Diễn biến thiên tai: Theo báo cáo tổng hợp của Ban chỉ huy phòng chống thiên tai – tìm kiếm cứu nạn và phòng thủ dân sự tỉnh. Từ ngày 20/9/2022 đến ngày 19/10/2022 tỉnh Kon Tum bị ảnh hưởng trực tiếp của bão số 4 và áp thấp nhiêt đới do bão số 5 gây ra nhiều thiệt hại tại hầu hết các huyện, thành phố.

- Tình hình thiệt hại

Về người: Trong tháng không phát sinh thiệt hại về người.

Về nhà ở: Thiệt hại 94 ngôi nhà.

Về nông nghiệp: Thiệt hại 192 ha hoa màu.

Về chăn nuôi: Thiệt hại 02 con gia súc bị chết.

Về thủy sản: Thiệt hại khoảng 0,6 ha.

Về thủy lợi: Ghi nhận thiệt hại 20 công trình thuỷ lợi.

Về giao thông: Trong tháng ghi nhận nhiều công trình giao thông bị thiệt hại tại các huyện Đăk Glei, Kon Plông, Tu Mơ Rông, Ngọc Hồi, Kon Rẫy.

Bão số 4 đã làm 11 xã bị mất điện. Đến nay, UBND Tỉnh đã chỉ đạo, huy động lực lượng tại chỗ khắc phục ngay các thiệt hại do bão gây ra, đã thông tuyến toàn bộ các tuyến đường bị sạt lở; khắc phục và đóng điện xong cho 11/11 xã mất điện; cơ bản sửa chữa xong các căn nhà bị tốc mái, hư hỏng nhẹ và đang tiếp tục cho sửa chữa các căn nhà, công trình hư hỏng nặng khác để đảm bảo an toàn tính mạng, sớm ổn định sinh hoạt, sản xuất cho người dân.

Tổng giá trị thiệt hại trong tháng 10 ước tính khoảng 45.730 triệu đồng. Luỹ kế từ đầu năm, tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 50.203 triệu đồng.

 


[1] Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư

[2] Nguồn: Báo cáo NHNN chi nhánh tỉnh Kon Tum

Xem và tải về:   Tải về

Cục Thống kê 

TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC