• Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử của Cục Thống kê tỉnh Kon Tum.
  • Địa chỉ: 415 URE - Phường Trường Chinh - Thành phố Kon Tum - Tỉnh Kon Tum.
Thứ Năm, 30/06/2022 05:33
Thông tin kinh tế xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum tháng 02 năm 2022
Cập nhật: Thứ Hai, 28/02/2022 10:53

 

Năm 2022 là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, dự báo sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức do ảnh hưởng của dịch bệnh. Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2022, ngay từ những ngày đầu năm tỉnh Kon Tum đã khẩn trương triển khai, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm theo chương trình, kế hoạch đề ra.

Tháng Hai năm 2022 có kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Nhâm Dần, diễn ra trong bối cảnh dịch Covid-19 vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. Các cơ quan, ban, ngành đã triển khai nghiêm túc các chỉ đạo của UBND tỉnh. Tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục ổn định, phát triển và đạt được nhiều kết quả: Việc vui xuân, đón Tết của Nhân dân trên địa bàn tỉnh diễn ra đầm ấm, vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm, không có trường hợp nào đói và không có Tết, đồng thời đảm bảo thực hiện nghiêm túc quy định về phòng, chống dịch Covid-19; hoạt động cung ứng hàng hóa, vận tải hành khách, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khoẻ Nhân dân, cung cấp điện cho sản xuất, sinh hoạt, tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, chính sách, an sinh xã hội... được thực hiện tốt. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn ổn định, không có vụ việc phức tạp xảy ra. Cụ thể các ngành, lĩnh vực trong tháng Hai như sau:

1. Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng Hai diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi. Ngành Nông nghiệp và Phát  triển nông thôn đã chủ động kiểm  tra và động viên bà con ra quân trong những ngày đầu năm, tiếp tục triển  khai, chỉ đạo, theo dõi  và nắm bắt tình hình sản xuất, tích cực phối hợp với các ngành liên quan khắc phục khó khăn, thúc đẩy sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản phát triển bền vững, thích ứng với thay đổi khí hậu và hạn chế ô nhiễm môi trường.

1.1. Nông nghiệp

1.1.1. Trồng trọt

Tình hình sản xuất cây trồng vụ đông xuân 2021-2022 được giám sát chặt chẽ đúng quy trình, ngành Nông nghiệp đã đưa ra các kế hoạch và giải pháp hiệu quả như: gieo sạ đúng thời vụ; chọn giống tốt có chất lượng và năng suất cao phù hợp với từng địa phương; tăng cường công tác phòng ngừa sâu bệnh và hướng dẫn các địa phương ứng dụng tổng hợp nhiều giải pháp kỹ thuật trong canh tác; khuyến cáo các địa phương chú trọng tu sửa, gia cố, nâng cấp các hồ, đập để nâng cao khả năng tích trữ nguồn nước, hạn chế những khó khăn, thiệt hại do khô hạn, thiếu nước gây ra.

Đến thời điểm ngày 15/02/2022 tổng DTGT cây hàng năm vụ đông xuân 2021-2022 tỉnh Kon Tum đạt 8.805 ha, tăng 0,86% (+75 ha) so với cùng kỳ vụ đông xuân 2020 - 2021.

Đến thời điểm 15/02/2022, toàn tỉnh gieo cấy được 6.956 ha lúa đông xuân, tăng 0,32% (+22 ha) so với cùng kỳ vụ đông xuân năm trước. Đến nay, diện tích cây lúa đã gieo sạ phát triển tốt, hiện tượng sâu bệnh không xảy ra. Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, đến trung tuần tháng Hai các địa phương trên toàn tỉnh gieo trồng được 465 ha ngô, giảm 2,88% (-14 ha); 15 ha lạc, tăng 15,38% (+2 ha); 966 ha rau các loại, tăng 1,49% (+14 ha); 65 ha đậu các loại, tăng 2,25% (+1 ha) so với cùng kỳ vụ đông xuân 2020-2021.

Đến nay cây trồng vụ đông xuân sinh trưởng và phát triển tốt, mật độ các bệnh sinh lý tỷ lệ thấp, mức độ gây hại nhẹ không ảnh hưởng đến cây trồng.

1.1.2. Chăn nuôi

Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm tiếp tục được phát triển ổn định. Các cơ quan chuyên môn quan tâm, khẩn trương thực hiện tốt phương án phòng chống dịch bệnh ở động vật; tăng cường công tác khử trùng, tiêu độc, đảm bảo môi trường vệ sinh an toàn; duy trì công tác giám sát, nắm bắt kịp thời tình hình dịch bệnh; tăng cường công tác kiểm dịch, kiểm soát hoạt động giết mổ, vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh.

Đến thời điểm ngày 15/02/2022, tổng đàn trâu 24.981 con, tăng 0,05% (+12 con); tổng đàn bò 83.334 con, tăng 1,72% (+1.406 con); tổng đàn lợn 143.739 con, tăng 2,97% (+4.140 con); tổng đàn gia cầm 1.730.300 con, tăng 4,46% (+76.700 con) so với cùng kỳ năm trước.

1.2.3. Quản lý sâu bệnh hại cây trồng và dịch bệnh gia súc, gia cầm[1]

a) Công tác quản lý sâu bệnh hại cây trồng: Chủ động nắm bắt diễn biến tình hình sâu, bệnh hại trên các loại cây trồng và hướng dẫn các biện pháp phòng trừ kịp thời, có hiệu quả. Đối với cây lúa một số đối tượng sinh vật gây hại như bọ trĩ, ốc bươu vàng, ruồi đục nõn, sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, rầy lưng trắng, bệnh đạo ôn lá,… phát sinh với mức độ thấp; đối với cây sắn, hầu hết diện tích sắn chính vụ, sắn lưu vụ nhiễm bệnh khảm lá đã được thu hoạch; bệnh khảm lá phát sinh gây hại rải rác đối với sắn trái vụ; các loại cây trồng khác như ngô, cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, cây ăn quả các loại, cây lâm nghiệp,… có phát sinh một số loại sâu bệnh hại thông thường và ở mức thấp.  

b) Quản lý dịch bệnh gia súc, gia cầm:

- Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã phát sinh và tiêu hủy 30 con lợn mắc bệnh DTLCP tại 04 ổ dịch Rờ Kơi - Sa Thầy 06 con, xã Hiếu - Kon Plong 08 con, Pờ Ê - Kon Plong 15 con, thị trấn Đăk Tô - Đăk Tô 01 con. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 01 ổ dịch DTLCP[2] chưa qua 21 ngày tại xã Pờ Ê, huyện Kon Plong.

- Các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác như bệnh lở mồm long móng, cúm gia cầm, bệnh viêm da nổi cục ở trâu, bò,... chưa phát sinh.

1.2. Lâm nghiệp

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đang là mùa khô, các ngành chức năng đã tăng cường chỉ đạo công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh; phân công trực PCCCR theo quy định; thông báo cấp dự báo cháy rừng định kỳ đến Tổ công tác liên ngành các huyện, thành phố và đơn vị chủ rừng trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cho người dân địa phương về phòng cháy chữa cháy rừng được tăng cường.

Tình hình chăm sóc và bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh trong tháng 02 năm 2022 được thực hiện rất nghiêm túc theo đúng quy trình của Ngành Lâm nghiệp. Tính đến 15/02/2022, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng; tình hình phòng chống chặt phá rừng cũng được các Kiểm lâm viên địa bàn triển khai thường xuyên; Trong tháng Hai đã có 04 vụ phá rừng trái pháp luật với diện tích thiệt hại là 1,376 ha. Tính chung 2 tháng đã có 05 vụ phá rừng trái pháp luật với diện tích thiệt hại là 2,897 ha. Các cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.

Công tác khai thác lâm sản: ước tính đến ngày 28/02/2022, trên địa bàn tỉnh khai thác gỗ là 10.970 m3, tăng 1,17% (+216 m3) so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng củi khai thác ước đạt 43.720 ster, tăng 1,51% (+650 ster) so với cùng kỳ năm trước.

Công tác trồng rừng tập trung trên địa bàn tỉnh chưa tiến hành vì đang là thời điểm mùa khô ở Tây nguyên.

1.3. Thuỷ sản

- Ước tính đến 28/02/2022, diện tích nuôi trồng thủy sản là 775,8 ha, tăng  9,0% (+64 ha) so với cùng kỳ năm trước.

- Sản lượng thủy sản 2 tháng đầu năm ước tính đạt 780 tấn, tăng 6,85% (+50 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

Sản lượng khai thác thủy sản nước ngọt là 298 tấn, tăng 6,43% (+18 tấn) so với năm trước.

Sản lượng nuôi trồng thủy sản nước ngọt là 482 tấn, tăng 7,11% (+32 tấn) so với năm trước.

Nhìn chung sản lượng thủy sản trong kỳ tăng do diện tích nuôi trồng thủy sản tăng so với năm trước, cùng với khai thác đánh bắt của các hộ trên các hồ thủy lợi, thủy điện, sông suối tăng.

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng Hai ước tính giảm so với tháng trước do năm nay tết Nguyên đán Nhâm Dần rơi vào tháng 02, các sơ sở sản xuất tạm nghỉ một thời gian để đón Tết nên chỉ số sản xuất giảm. Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp tháng 01/2022 tăng khá so với cùng kỳ năm trước (tăng 35,40%) nên tính chung 2 tháng đầu năm 2022, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 39,65% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 02 năm 2022 ước tính tăng 45,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó tăng chủ yếu ở ngành sản xuất và phân phối điện tăng (+99,61%); ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,05% ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 9,00%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 5,81%. Ngành công nghiệp chế biến giảm chủ yếu ở ngành sản xuất chế biến thực phẩm và ngành sản xuất hóa chất (sản phẩm cồn sinh học); hiện tại các nhà máy sản xuất tinh bột sắn, sản xuất cồn đang gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm, lượng hàng hóa tồn kho nhiều nên hạn chế sản lượng sản xuất.

tính tháng 02 năm 2022 so với tháng 02 năm 2022.

So với tháng trước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 02 năm 2022 ước tính giảm 20,53%. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 33,01%, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 13,92%, nguyên nhân chỉ số sản xuất 2 ngành này giảm so tháng trước do năm nay tết Nguyên đán rơi vào tháng 02, các sơ sở sản xuất tạm nghỉ một thời gian để đón tết nên chỉ số sản xuất giảm. Ngành sản xuất và phân phối điện giảm 23,19% chủ yếu do kế hoạch điều tiết sản lượng chung của ngành điện nhằm duy trì sản xuất ổn định trong mùa khô. Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải hoạt động ổn định so tháng trước.

Tính chung 2 tháng đầu năm chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 39,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó tăng chủ yếu ở ngành sản xuất và phân phối điện tăng (+78,79%); ngành công nghiệp khai khoáng tăng 18,22% ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 7,81%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 4,63%.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành trọng điểm có chỉ số sản xuất 2 tháng đầu năm 2022 tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 78,79%; Khai khoáng khác tăng 18,22%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 18,86%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 5,11%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 8,13%; In, sao chép bản ghi các loại tăng 37,27%; Khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 5,22%. Bên cạnh đó, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 2 tháng đầu năm giảm sâu hoặc tương đối ổn định so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 13,64%; Sản xuất trang phục giảm 12,62%; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 0,05%; Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 20,73%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 1,72%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 7,41%; Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải; tái chế phế liệu giảm 7,85%.

Một số sản phẩm chủ yếu 2 tháng đầu năm có sản lượng tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện sản xuất đạt 449 triệu Kwh, tăng 84,83%; Đá xây dựng khác đạt 56.493 m3, tăng 18,35%; Gỗ cưa hoặc xẻ (trừ gỗ xẻ tà vẹt) đạt 4.378 m3, tăng 18,86%; Sản phẩm in khác (quy khổ 13cmx19cm) đạt 33 triệu trang, tăng 37,27%; Gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn đạt 20,7 triệu viên, tăng 21,76%; Cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng, bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo đạt 2.850 tấn, tăng 5,28%; Bàn bằng gỗ các loại đạt 12.332 chiếc, tăng 5,62%; Ghế khác có khung bằng gỗ đạt 29.073 chiếc, tăng 23,95%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có sản lượng giảm sâu hoặc tăng thấp so với cùng kỳ năm trước: Tinh bột sắn đạt 45.352 tấn, giảm 11,81%; Đường RE 6.220 tấn, giảm 6,32%; Bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc đạt 0,248 triệu cái, giảm 8,95%; Cồn béo công nghiệp đạt 1.050 tấn, giảm 21,35%; Phân vi sinh đạt 157 tấn, giảm 15,14%; Sản phẩm khác bằng cao su lưu hóa trừ cao su cứng chưa phân vào đâu đạt 285 tấn, giảm 1,72%.

Chỉ số sử dụng lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp thời điểm cuối tháng Hai ước tính giảm 0,03% so với tháng trước và giảm 2,06% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm, chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp giảm 2,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lao động đang làm việc trong doanh nghiệp khu vực Nhà nước tăng 17,14%; khu vực ngoài Nhà nước giảm 11,14%. Chia theo ngành kinh tế, trong 2 tháng đầu năm, lao động đang làm việc trong ngành Khai khoáng giảm 37,50%; Công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,86%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí nước tăng 14,05% so với cùng kỳ năm trước; Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 15,53% so với cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất ngành công nghiệp của các đơn vị, cơ sở trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong tháng Hai và 2 tháng đầu năm 2022 hoạt động ổn định; một số nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng cao như ngành công nghiệp khai thác khoáng sản và ngành sản xuất, phân phối điện. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số sản xuất giảm thấp so cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do ngành sản xuất chế biến tinh bột sắn, sản xuất cồn gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm và khan hiếm nguồn nguyên liệu và sản lượng sản phẩm của 2 ngành này giảm nhiều. 

3. Vốn đầu tư

Tháng Hai năm 2022 có kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, do đó tiến độ thực hiện các dự án, công trình bị chậm lại. Đồng thời chủ đầu tư, nhà thầu chủ yếu tập trung thực hiện các dự án chuyển tiếp từ năm trước, hoàn tất các thủ tục nghiệm thu, thanh toán khối lượng hoàn thành của năm 2021. Đối với các công trình mới được bố trí vốn năm 2022 chủ yếu đang trong trong thời gian hoàn tất các thủ tục, hồ sơ chuẩn bị đầu tư nên chưa có khối lượng thực hiện, nên tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước 2 tháng đầu năm so với kế hoạch đạt không cao.

Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong tháng 02 năm 2022 đạt 125,115 tỷ đồng, giảm 28,87% so với tháng trước, nguyên nhân chính là do tháng 02 là tháng có kỳ nghỉ Tết Nguyên đán nên đa số các công trình, dự án đều tạm nghỉ nên vốn đầu tư giảm.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2022, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn đạt 301,025 tỷ đồng, tăng 32,84% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là do các ngành, các cấp trên địa bàn tỉnh đã chủ động triển khai đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công nên vốn đầu tư tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý, Chia ra:

- Nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 191,135 tỷ đồng, chiếm 63,49% trong tổng số nguồn vốn. Trong đó: nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 94,83 tỷ đồng; nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu 95,861 tỷ đồng; nguồn vốn khác đạt 0,444 tỷ đồng.

- Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 109,89 tỷ đồng, chiếm 36,5% trong tổng số nguồn vốn. Chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn như đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa... trên địa bàn các huyện, thành phố thuộc tỉnh.

Nhìn chung trong 2 tháng đầu năm 2022 tình hình triển khai thực hiện các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tiếp tục triển khai đúng theo kế hoạch. Cụ thể một số dự án trọng điểm như: Đầu tư xây dựng đường trục chính phía tây thành phố Kon Tum, đường giao thông tiếp nối Tỉnh lộ 674 đi tuần tra biên giới xã Mo Ray huyện Sa Thầy, đường trung tâm phía nam thị trấn Plei Kần, đường vào trụ sở làm việc các cơ quan thành phố Kon Tum...

4. Thương mại, dịch vụ

Doanh thu hoạt động thương mại, dịch vụ trong tháng có mức tăng trưởng đáng kể. Tháng Hai năm 2022 là thời điểm nghỉ Tết Nguyên đán Nhâm Dần nên hoạt động bán lẻ và kinh doanh dịch vụ tiêu dùng có giảm so với tháng trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 02 giảm 3,32% so với tháng trước và tăng 39,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 38,7% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 02 năm 2022 đạt 2.774,9 tỷ đồng, giảm 3,32% so với tháng trước và tăng 39,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 2.377,62 tỷ đồng, chiếm 85,68% trong tổng số, giảm 4,21% so với tháng trước và tăng 37,89% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 266,84 tỷ đồng, chiếm 9,62% trong tổng số, tăng 5,08% so với tháng trước và tăng 69,83% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 130,45 tỷ đồng, chiếm 4,7% trong tổng số, giảm 2,88% so với tháng trước và tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh ước tính đạt 5.645,01 tỷ đồng, tăng 38,7% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo ngành hoạt động, trong 2 tháng đầu năm 2022:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 4.859,48 tỷ đồng, chiếm 86,08% trong tổng số, tăng 39,5% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 520,77 tỷ đồng, chiếm 9,23% trong tổng số, tăng 46,05% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu dịch vụ khác đạt 264,76 tỷ đồng, chiếm 4,69% trong tổng số, tăng 15,16% so với cùng kỳ năm trước.

Hoạt động thương mại và dịch vụ tiêu dùng 2 tháng đầu năm 2022 có xu hướng phục hồi khi dịch Covid-19 được kiểm soát, cầu tiêu dùng của người dân đã tăng trở lại. Nguyên nhân tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 02 năm 2022 giảm so tháng trước (thời điểm tết Nguyên đán) sức mua bị giảm, nhu cầu tiêu dùng và mua sắm của người dân giảm, giá cả các mặt hàng tương đối ổn định; Một số doanh nghiệp kinh doanh thương mại đã tăng cường triển khai các chương trình khuyến mại đối với một số mặt hàng, thay đổi mẫu mã và nâng cao chất lượng hàng hóa nhằm kích thích lượng tiêu dùng cũng như sức mua của người dân.

5. Hoạt động vận tải

Do kỳ nghỉ Tết nguyên đán và ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên hoạt động vận tải tháng Hai năm 2022 giảm 8,18% về lượng hành khách vận chuyển và giảm 8,68% về lượng hàng hóa vận chuyển so với tháng trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2022, vận chuyển hành khách giảm 19,05% và vận chuyển hàng hóa tăng 14,90%. so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính tháng 02 năm 2022 đạt 170.002 triệu đồng, giảm 3,13% so với tháng trước và tăng 5,37% so cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

- Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 42.602 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước giảm 20,32%; Vận chuyển ước đạt 824 nghìn lượt khách, giảm 18,1%; Luân chuyển ước đạt 103.981 nghìn lượt khách.km, giảm 19,77%.

- Vận tải hàng hóa: Doanh thu ước đạt 126.597 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng 18,21%; Vận chuyển ước đạt 1.355 nghìn tấn, tăng 13,29%; Luân chuyển ước đạt 67.716 nghìn tấn.km, tăng 11,72%.

- Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu ước đạt 803 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,42%.

Hoạt động vận chuyển hành khách và vận chuyển hàng hóa giảm so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu là thời gian hoạt động tháng 02 chỉ có 28 ngày ít hơn tháng trước 3 ngày, đồng thời có thời gian nghỉ Tết Nguyên đán nên hoạt động vận chuyển hàng hóa trong những ngày đầu năm Âm lịch còn cầm chừng chưa sôi động trở lại.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2022, doanh thu vận tải, kho bãi ước tính đạt 345.500 triệu đồng, tăng 2,98% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

- Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 86.112 triệu đồng, giảm 23,74%; Vận chuyển ước đạt 1.721,65 nghìn lượt khách, giảm 19,05%; Luân chuyển ước đạt 215.528 nghìn lượt khách.km, giảm 21,12%.

- Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước đạt 257.795 triệu đồng, tăng 16,65%; Vận chuyển ước đạt 2.838,6 nghìn tấn, tăng 14,9%; Luân chuyển ước đạt 140.674 nghìn tấn.km, tăng 13,02%.

- Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu ước đạt 1.593 triệu đồng, giảm 2,31%.

6. Giá cả thị trường           

Tháng Hai năm 2022 là tháng có Tết Nguyên đán Nhâm Dần nên nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao, giá lương thực, thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng trong dịp Tết Nguyên đán là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2022 tăng 1,40% so với tháng trước và tăng 1,58 % so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 2 tháng đầu năm 2022, CPI tăng 2,12% so với cùng kỳ năm trước

6.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Hai năm 2022 tăng 1,4% so với tháng trước; tăng 1,58% so với cùng tháng năm trước; tăng 1,83% so với tháng 12 năm trước; tăng 6,67% so với kỳ gốc 2019; CPI bình quân 2 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,12%.

Nhìn chung, tháng Hai năm 2022 chỉ số giá tiêu dùng của nhiều nhóm ngành hàng tăng so với tháng trước, một mặt là do giá xăng, dầu tăng mạnh ảnh hưởng đến chi phí lưu thông hàng hóa tăng, mặt khác do trong tháng có thời gian Tết Nguyên đán Nhân Dần năm 2022 nên giá cả nhiều mặt hàng thiết yếu tiêu dùng Tết tăng do tác động quy luật giá cả thị trường Tết. Tuy nhiên, với việc điều hành một số chính sách kịp thời của Chính phủ trong việc tăng cường quản lý giá thị trường, điều hòa cung cầu hàng hóa, bình ổn giá cả thị trường Tết; Bên cạnh đó ở địa phương, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Chỉ thị số 16/CT-UBND ngày 27/12/2021 về việc tăng cường các biện pháp bảo đảm đón Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022 vui tươi, lành mạnh, an toàn, tiết kiệm. Sở Công thương tỉnh Kon Tum ban hành văn bản số 68/KH-SCT ngày 21/01/2022 về Kế hoạch thực hiện chương trình bình ổn thị trường hàng hóa dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022, tại địa bàn tỉnh Kon Tum có 02 đơn vị tham gia và triển khai 05 điểm bán hàng bình ổn giá Tết nên giá các mặt hàng trong tháng không có sự biến động giá lớn.

Trong mức tăng 1,40% của CPI tháng Hai năm 2022 so với tháng trước có 08 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng; 01 nhóm có chỉ số giảm và 02 nhóm hàng giữ giá ổn định.

- 08 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:

(1) Chỉ số nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,54%, trong đó:

+ Nhóm lương thực: Chỉ số nhóm lương thực tăng 0,63%, riêng chỉ số nhóm gạo tăng 0,74%, trong đó gạo tẻ thường tăng 0,61%; gạo tẻ ngon tăng 0,84%; gạo nếp tăng 2,99%, nguyên nhân giá gạo tăng là do nhu cầu tiêu dùng tăng và là sản phẩm trái vụ, giá gạo nếp tăng là do nhu cầu tiêu dùng để chế biến một số loại bánh tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán tăng nên làm cho giá tăng theo. Nhóm bột mì và ngũ cốc khác giảm 1,08%, trong đó khoai giảm 2,16%; sắn giảm 1,49% là do nhu cầu tiêu dùng giảm sau Tết nên giá giảm theo. Nhóm lương thực chế biến tăng 0,66%, trong đó miến tăng 3,13%; bún, bánh phở, bánh đa tăng 1,15%.

+ Nhóm thực phẩm: Chỉ số nhóm thực phẩm tăng 3,07%, cụ thể: nhóm thịt gia súc tươi sống tăng 5,85%, trong đó thịt lợn tăng 6,65%; thịt bò tăng 5,22%; nội tạng động vật tăng 4,46. Giá thịt lợn và thịt bò tăng là do lượng cung giảm và nhu cầu tiêu dùng tăng nên làm cho giá tăng theo quy luật cung cầu thị trường. Nhóm thịt gia cầm tăng 5,09%, trong đó thịt gà tăng 5,4% là do nhu cầu tiêu dùng sau Tết tăng trong khi đó lượng cung giảm. Nhóm thịt chế biến tăng 4,31%, trong đó thịt quay, giò, chả tăng 4,82%, nguyên nhân chủ yếu là do tăng theo giá thịt lợn. Nhóm trứng các loại tăng 1,12%, trong đó trứng tươi các loại tăng 1,1%, là do nhu cầu tiêu dùng trứng để sản xuất các loại bánh tăng nên làm cho giá tăng. Nhóm dầu, mỡ ăn và chất béo khác tăng 2,36%, trong đó dầu thực vật tăng 2,12%; mỡ động vật tăng 4,32% là do tăng theo giá thịt lợn.

+ Nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 2,17%, trong đó ăn ngoài gia đình tăng 2,51%, uống ngoài gia đình tăng 0,96%, nguyên nhân chủ yếu do các cơ sở kinh doanh hàng ăn uống tăng phụ thu thêm giá phục vụ trong thời gian Tết.

(2) Chỉ số nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,88%, tăng chủ yếu là do nhóm bia các loại tăng 0,79%, trong đó bia lon tăng 0,66%, bia chai tăng 1,82%; nhóm rượu các loại tăng 1,72%, trong đó rượu vang tăng 2,41%, rượu mạnh tăng 1,06%.  Nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh và ảnh hưởng chi phí lưu thông tăng.

(3) Chỉ số nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,44%, trong đó nhóm quần áo may sẵn tăng 0,38%; nhóm giày, dép tăng 1,15%. Nguyên nhân là do còn ảnh hưởng giá Tết nên giá tăng theo quy luật giá cả thị trường.

(4) Chỉ số nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,27%, tác động chính là do giá gas tăng 3,55%, tăng 16.000 đồng/bình 12kg từ ngày 01/02/2022; điện sinh hoạt tăng 0,34% là do trong tháng lượng điện tiêu dùng tăng làm cho giá bình quân tăng; nhóm nhà ở thuê giảm 0,11% là do có 01 hộ giảm giá hỗ trợ ảnh hưởng dịch Covid-19; nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,65%, trong đó vật liệu bảo dưỡng nhà chính tăng 0,54%, vật liệu bảo dưỡng nhà khác tăng 0,79%, nguyên nhân chủ yếu do ảnh hưởng chi phí lưu thông tăng và giá sắt, thép tăng; giá dầu hỏa tăng 8,39% so với tháng trước.

(5) Chỉ số nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,62%, tăng chủ yếu là do tủ lạnh tăng 1,02%; máy giặt tăng 2,06%; đồ dùng nấu ăn tăng 2,59%; giường, tủ bàn, ghế tăng 0,64%; đồ dùng bằng kim loại tăng 1,2%; vật phẩm tiêu dùng khác tăng 1,27%. Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng chi phí lưu thông tăng và còn ảnh hưởng giá Tết.

(6) Chỉ số nhóm giao thông tăng 3,16%, tác động chính là do nhóm nhiên liệu tăng 5,8%, là do trong tháng có đợt điều chỉnh giá xăng, dầu ngày 11/02/2022 và ngày 21/02/2022, tính bình quân so với tháng trước thì chỉ số giá xăng tăng 5,78%; dầu diezel 0,05S-II tăng 8,25%. Nhóm dịch vụ giao thông công cộng tăng 3,45%, trong đó vận tải hành khách bằng đường bộ tăng 3,02%, nguyên nhân là do trong tháng có thời gian tăng giá vé xe Tết Nguyên đán (từ 40% đến 60% tùy vào từng khoảng thời gian và chặng đường) để bù lỗ cho chiều rỗng hoặc vắng khách.

(7) Chỉ số nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,39% là do nhóm thiết bị văn hóa tăng 1,82%, trong đó ti vi màu tăng 1,91%, nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng chi phí lưu thông tăng. Nhóm hoa, cây cảnh giảm 0,57%, trong đó cây, hoa cảnh giảm 1,38% là do giá giảm ổn định trở lại sau Tết.

(8) Chỉ số nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,58% là do nhóm dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 2,22%, trong đó cắt tóc, gội đầu tăng 2,25%, nguyên nhân là do ảnh hưởng giá cả thị trường Tết.

- Một nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: Chỉ số nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,01% là do thiết bị điện thoại giảm 0,02%, trong đó máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 0,57%, nguyên nhân là do các cơ sở kinh doanh giảm giá khuyến mãi sau Tế nhiều dòng điện thoại di động để kích cầu.

- Hai nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá không có biến động gồm: Các mặt hàng nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục.

6.2. Chỉ số giá vàng và Đô la Mỹ

Giá vàng biến động theo giá vàng thế giới và trong nước với xu hướng tăng so với tháng trước, giá vàng 9999 trên địa bàn tỉnh tháng 02/2022 được bán với giá bình quân khoảng 5.952.000 đồng/chỉ, tăng 1,81% so với tháng trước; tỷ giá USD/VND bình quân giao dịch ở mức 22.912 đồng/USD giảm 0,29%.

Chỉ số giá vàng tháng Hai năm 2022 tăng 1,81% so với tháng trước; tăng 10,30% so với cùng kỳ năm trước; tăng 2,82% so với tháng 12 năm trước.

Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng Hai năm 2022 giảm 0,29% so với tháng trước; giảm 0,91% so với cùng kỳ năm trước; giảm 0,39% so với tháng 12 năm trước.

7. Một số tình hình xã hội

7.1. Về y tế

7.1.1. Tình hình dịch bệnh trong tháng

Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (Covid-19): Trong tháng, ghi nhận 1.885 ca mắc mới, tăng 1.263 ca so với tháng trước. Lũy tích đến 7h ngày 22 tháng 02 năm 2022 ghi nhận 5.828 trường hợp mắc Covid-19.

Tay - chân - miệng: Trong tháng, ghi nhận 02 ca mắc mới (Đăk Hà), tăng 02 ca so với tháng trước và bằng so với tháng 01/2021.

Thủy đậu: Trong tháng, ghi nhận 17 ca mắc mới (Kon Rẫy 03, Kon Plông 13, Sa Thầy 01), giảm 03 ca so với tháng trước và tăng 17 ca so với tháng 01/2021.

Quai bị: Trong tháng, ghi nhận 03 ca mắc mới (Kon Rẫy 01, Tu Mơ Rông 02), giảm 05 ca so với tháng trước và tăng 03 ca so với tháng 01/2021.

Sốt xuất huyết Dengue: Trong tháng, ghi nhận 07 ổ dịch mới (Đăk Hà 04, Ngọc Hồi 01, Đăk Glei 02), 07 ca mắc mới (Đăk Hà 04, Ngọc Hồi 01, Đăk Glei 02), giảm 22 ca so với tháng trước và giảm 01 ca so với tháng 01/2021.

Trong tháng 01 năm 2022, không ghi nhận mắc mới các bệnh: Cúm A (H5N1, H7N9...), hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do vi rút Corona (MERS-CoV), cúm A(H1N1), bệnh do vi rút Zika, viêm gan vi rút A, bạch hầu, dại, ho gà, sởi, viêm não Nhật Bản, sốt rét.

Phòng chống lao, phong: Tổng số bệnh nhân lao đăng ký điều trị 19 người (Đăk Tô 04, Đăk Hà 03, Ngọc Hồi 02, Tu Mơ Rông 02, thành phố Kon Tum 08), trong đó lao phổi AFB (+) 13. Không ghi nhận bệnh nhân phong mới, tổng số bệnh nhân phong đang quản lý 163 người (điều trị đa hóa trị liệu 02, giám sát 02, chăm sóc tàn tật 159 người).

7.1.2. Tiêm chủng mở rộng: Tiếp tục triển khai Kế hoạch tiêm vắc xin phòng Covid-19 cho người từ 12 tuổi trở lên. Tính đến ngày 10/02/2022, tỷ lệ đối tượng ≥ 18 tuổi đã tiêm vắc xin phòng COVID-19 đạt 98,99%, trong đó đã tiêm đủ liều cơ bản đạt 96,48%; đối tượng 12 tuổi - 17 tuổi đã tiêm vắc xin phòng COVID-19 đạt 99,19%, trong đó đã tiêm đủ liều cơ bản 94,70%; đối tượng từ 12 tuổi trở lên đã tiêm vắc xin phòng COVID-19 đạt 99,03%; tỷ lệ tiêm vắc xin trên tổng dân số là 66,13%.

7.1.3. Phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, ghi nhận 04 ca nhiễm HIV mới, 03 bệnh nhân HIV chuyển sang giai đoạn AIDS, 01 bệnh nhân tử vong. Lũy tích đến ngày 31/01/2022, tổng số nhiễm HIV/AIDS 545 người, trong đó tử vong 197 người và còn sống 348 người (quản lý được 190 người). Tổng số bệnh nhân đang được điều trị ARV 148 người (08 trẻ em), đang điều trị dự phòng lao bằng Isoniazid 12 người.

7.1.4. Truyền thông, giáo dục sức khỏe: Sở Y tế phối hợp với Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh Kon Tum thực hiện 01 phóng sự tuyên truyền các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 dịp Tết Nguyên đán năm 2022. Phối hợp với Báo Kon Tum thực hiện 01 chuyên trang tuyên truyền phòng chống dịch Covid-19.

7.1.5. An toàn vệ sinh thực phẩm:

Ban Chỉ đạo liên ngành an toàn thực phẩm tỉnh xây dựng Chương trình công tác trọng tâm bảo đảm an toàn thực phẩm năm 2022; Kế hoạch triển khai công tác hậu kiểm về an toàn thực phẩm năm 2022. Giám sát bảo đảm an toàn thực phẩm phục vụ kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội khóa XV. Tiếp tục triển khai hoạt động truyền thông phòng, chống ngộ độc thực phẩm lồng ghép truyền thông phòng, chống dịch Covid-19 tại các thôn, làng.

Kiểm tra liên ngành an toàn thực phẩm Tết Nguyên đán Nhâm Dần năm 2022 đối với 416 cơ sở, xử phạt vi phạm hành chính 03 cơ sở, tổng số tiền xử phạt là 1,65 triệu đồng với hành vi kinh doanh thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ, tiêu hủy sản phẩm thực phẩm tại 17 cơ sở với 26 loại sản phẩm gồm: 73,73 kg thực phẩm rắn và 76 lít thực phẩm lỏng.

Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong tháng, không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm.

7.2. Về giáo dục

Nhìn chung việc dạy học theo các phương án đã cơ bản thích ứng và dần đi vào ổn định; Sở GDĐT tiếp tục tổ chức các đoàn kiểm tra đến tận cơ sở để nắm bắt những khó khăn, vướng mắc để kịp thời chỉ đạo. Đồng thời, tiếp tục tăng cường công tác dạy học trực tuyến và có các biện pháp để quản lý tốt số học sinh đang học trực tiếp tại các trường bán trú, dân tộc nội trú. Tại tỉnh Kon Tum, đến nay khoảng trên 149.000 học sinh đi học trực tiếp ở các cấp chiếm 92,2%. Một số trường ở các địa bàn dịch bệnh diễn biến phức tạp đang tạm dừng học trực tiếp, chuyển sang các hình thức học phù hợp khác; một số trường duy trì hình thức dạy học trực tuyến ở một số bộ môn vào một số buổi trong tuần để đảm bảo dạy học 02 buổi trên ngày.

Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum đã ban hành Công văn về việc hỗ trợ các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh dịch Covid-19[3]. UBND tỉnh đã giao Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Sở Y tế căn cứ tình hình thực tế của tỉnh, hướng dẫn các đơn vị có liên quan và các doanh nghiệp triển khai thực hiện việc hỗ trợ cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh dịch Covid-19 theo chỉ đạo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum đã ban hành Công văn về việc triển khai Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên, nhi đồng năm 2022[4]. Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh, đơn vị có liên quan và các địa phương triển khai tổ chức Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên, nhi đồng năm 2022 theo đề nghị của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

Hội đồng nhân dân tỉnh Kon Tum đã ban hành Nghị quyết quy định mức hỗ trợ cho trẻ em, giáo viên, cơ sở giáo dục mầm non độc lập dân lập, tư thục ở địa bàn có khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Kon Tum[5]. Theo Nghị quyết, cơ sở giáo dục mầm non độc lập đảm bảo các điều kiện thuộc đối tượng quy định được hỗ trợ 01 lần/cơ sở, bao gồm: trang bị đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học theo danh mục quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và kinh phí sửa chữa cơ sở vật chất để phục vụ trực tiếp cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em.

7.3. Về văn hóa, thể dục thể thao

Sáng 10/02/2022, Hội Nhà báo tỉnh phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Thông tin và Truyền thông tổ chức khai mạc Hội báo Xuân năm 2022 - Trải nghiệm văn hóa truyền thống tại Bảo tàng - Thư viện tỉnh. Hội báo Xuân diễn ra trong 4 ngày (từ ngày 10 – 13/02/2022) với trên 100 ấn phẩm báo Xuân, Tạp chí của Hội Nhà báo tỉnh, Trường Chính trị tỉnh, Sở Thông tin và Truyền thông cùng các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương trong cả nước; đồng thời giới thiệu trên 720 cuốn sách viết về Đảng, Bác Hồ, lịch sử phát triển của tỉnh Kon Tum qua các giai đoạn; giới thiệu các sản phẩm OCOP của tỉnh…

Tối 15/02/2022, Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh (VHNT) tổ chức Đêm thơ - nhạc với chủ đề "Hãy sống và hy vọng" chào mừng Ngày thơ Việt Nam lần thứ 20 năm 2022. Với cách thức tổ chức mới, sáng tạo, Đêm thơ - nhạc đã mang đến cho các đại biểu và hội viên tiết mục diễn ngâm thơ Nguyên tiêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 9 tác phẩm thơ của các hội viên Hội VHNT tỉnh.

7.4. Tình hình trật tự an toàn xã hội ở địa phương

Công tác đấu tranh ngăn chặn, xử lý các loại tội phạm tiếp tục được chỉ đạo thực hiện quyết liệt. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Hoạt động của tội phạm theo băng, nhóm, tội phạm liên quan đến “tín dụng đen” được đấu tranh, triệt xóa, không có băng, nhóm hoạt động phức tạp, gây bức xúc trong dư luận, cụ thể:

Phạm tội về trật tự xã hội: Trong tháng, phát hiện 36 vụ (giảm 13 vụ so tháng trước), hậu quả, thiệt hại: 10 người bị thương, mất một số tài sản khoảng 265 triệu đồng.

Phạm tội về trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng và chức vụ: phát hiện 03 vụ (giảm 01 vụ so tháng trước), gồm: 02 vụ tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự 01 vụ.

Phạm tội về ma túy: phát hiện 15 vụ (tăng 13 vụ so tháng trước), gồm: Tàng trữ trái phép chất ma túy 09 vụ; Vận chuyển trái phép chất ma túy 01 vụ; Mua bán trái phép chất ma túy 03 vụ; Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 02 vụ. Thu giữ 36,675 gram Heroin; 2044,98 gram ma túy tổng hợp; 01 khẩu súng.

Tình hình trật tự, an toàn giao thông: xảy ra 53 vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, làm 03 người chết, 01 người bị thương (giảm 02 vụ, 02 người chết, 03 người bị thương so tháng trước). Thiệt hại về tài sản: 01 ô tô, 03 mô tô ước tính khoảng 32 triệu đồng.

Tình hình cháy, nổ, sự cố, tai nạn: xảy ra 01 vụ cháy (giảm 01 vụ so tháng trước), nguyên nhân do sự cố hệ thống điện. Thiệt hại: một số tài sản trị giá khoảng 1.000 triệu đồng.

7.5. Tình hình môi trường

Trong tháng không phát hiện vụ vi phạm môi trường.

7.6. Tình hình thiên tai

Theo báo cáo tổng hợp của Ban chỉ huy phòng chống thiên tai - tìm kiếm cứu nạn và phòng thủ dân sự tỉnh, từ ngày 20/01/2022 đến ngày 19/02/2022 trên địa bàn tỉnh Kon Tum không xảy ra thiên tai.

 


[1] Theo báo cáo số 97/ BC-SNN ngày 21/02/2022 của Sở NN và PTNN

[2]Lũy kế 01 ổ dịch DTLCP chưa qua 21 ngày: xã Pờ Ê - Kon Plong 15 con.

 

[3] Công văn số 4166/UBND-KGVX ngày 19/11/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum.

[4] Công văn số 307/UBND-KGVX ngày 28/01/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum.

[5]  Nghị quyết số 69/2021/NQ-HĐND ngày 14/12/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh Kon Tum.

Xem và tải về:   Tải về

Cục Thống kê 

TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC