• Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử của Cục Thống kê tỉnh Kon Tum.
  • Địa chỉ: 415 URE - Phường Trường Chinh - Thành phố Kon Tum - Tỉnh Kon Tum.
Thứ Sáu, 29/05/2020 06:37
Thông tin kinh tế xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum 11 tháng năm 2019
Cập nhật: Thứ Sáu, 29/11/2019 10:16

 

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

- Trồng trọt

+ Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ mùa 2019: Ước tính đến thời điểm ngày 15/11/2019 tổng diện tích gieo trồng (DTGT) cây hàng năm vụ mùa 2019 tỉnh Kon Tum là 62.203 ha, giảm 0,08% (-51 ha) so vụ mùa năm 2018. Cụ thể DTGT một số loại cây trồng so với vụ mùa năm 2018 như sau:

Cây lúa: 16.563 ha, giảm 0,26% (-44 ha). Chia ra: Cây lúa ruộng 12.551 ha, tăng 0,88% (+110 ha), cây lúa rẫy 4.012 ha, giảm 3,70% (-154 ha). Diện tích cây lúa rẫy giảm do lúa rẫy cho năng suất thấp, trong năm qua giá cả một số cây trồng khác tương đối ổn định mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nên người dân đã chuyển một số diện tích trồng lúa rẫy sang trồng các cây khác.

Cây ngô: 4.786 ha, giảm 2,96% (-146 ha). DTGT cây ngô giảm nhiều do nhu cầu sử dụng cây ngô làm lương thực ngày càng giảm, một số diện tích trước đây trồng ngô đã được chuyển sang trồng cây khác.

Cây sắn: 38.160 ha, giảm 0,52% (-198 ha).

Khoai lang: 135 ha, giảm 2,17% (-3 ha).

Cây lạc: 140 ha, tăng 16,67% (+20 ha).

Đậu các loại: 306 ha, giảm 6,13% (-20 ha). Diện tích cây đậu giảm do những năm trước nông dân tận dụng diện tích đất cây cao su, cây điều đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản để trồng xen. Năm nay, một phần diện tích cây cao su, cây điều đã khép tán trưởng thành nên diện tích cây đậu, lạc giảm so với năm trước.

Rau các loại: 1.272 ha, tăng 4,86% (+59 ha).

Hoa các loại: 121 ha, tăng 8,33% (+9 ha).

+ Tình hình thu hoạch cây trồng vụ mùa 2019: Tính đến 15/11/2019, cây lúa ruộng thu hoạch đạt khoảng 85,00% (10.668 ha) diện tích, lúa rẫy thu hoạch đạt khoảng 76,00% (3.059 ha) diện tích. Ngô vụ mùa cơ bản thu hoạch xong. Cây sắn thu hoạch khoảng 18,00% diện tích. Với cây mía, do Nhà máy đường Kon Tum vừa có kế hoạch thu mua mía nên nông dân mới bắt đầu triển khai thu hoạch (chủ yếu ở khu vực thành phố Kon Tum).

Năng suất lúa vụ mùa ước đạt: 35,48 tạ/ha, tăng 1,58% (+0,55 tạ/ha) so với vụ mùa năm 2018. Trong đó: Năng suất lúa ruộng ước đạt 41,95 tạ/ha, tăng 0,76% (+0,31 tạ/ha); Năng suất lúa rẫy ước đạt 15,24 tạ/ha, tăng 2,23% (+0,33 tạ/ha).

+ Diện tích cây lâu năm: Ước tính đến thời điểm ngày 15/11/2019, tổng diện tích cây lâu năm hiện có trên địa bàn tỉnh là: 101.036 ha, tăng 1,36% (+1.358 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó:

Diện tích cà phê ước đạt 21.577 ha, tăng 5,32% (+1.089 ha). Trong đó, diện tích cà phê trồng mới là 1.353 ha, giảm 46,56% (-1.179 ha). Diện tích cà phê tăng do giá cà phê những năm gần đây tương đối ổn định nên người dân quan tâm đầu tư mở rộng.

Diện tích cao su ước đạt 74.339 ha, giảm 0,45% (-333 ha). Trong đó, diện tích cao su trồng mới là 74 ha, giảm 41,27% (-52 ha).

- Chăn nuôi: Tình hình dịch bệnh (16/10/2019 - 15/11/2019)

Trong tháng, dịch tả lợn Châu Phi xảy ra trên địa bàn tỉnh với 1.209 con lợn bị nhiễm bệnh và đã xử lý tiêu hủy.

Các dịch bệnh thông thường trên đàn gia súc, gia cầm được lực lượng thú y phát hiện và xử lý kịp thời.

b) Lâm nghiệp

Trong thời gian qua các ngành chức năng trên địa bàn tỉnh đã tăng cường chỉ đạo công tác bảo vệ rừng và công tác phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô 2019 - 2020; hướng dẫn các địa phương và đơn vị chủ rừng xây dựng phương án Phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô 2019 - 2020.  

Tính đến ngày 15/11/2019, trên địa bàn tỉnh xảy ra 60 vụ phá rừng trái pháp luật với diện tích thiệt hại là 18,995 ha, tăng 12 vụ (-5,678 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính đến thời điểm 30/11/2019, công tác trồng rừng tập trung trên địa bàn tỉnh là 970 ha, tăng 2,54% (+24 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Công tác khai thác lâm sản: ước tính đến ngày 30/11/2019, trên địa bàn tỉnh khai thác gỗ là 124.170 m3, tăng 4,57% (+5.423 m3) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi khai thác là 238.970 ste, tăng 0,92% (+2.170 ste) so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính đến thời điểm 30/11/2019, số cây lâm nghiệp trồng phân tán trên địa bàn tỉnh đạt 3.752 ngàn cây, tăng 0,70% (+26 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước.

c) Thủy sản

Ước tính đến 15/11/2019, diện tích nuôi trồng thủy sản là 705 ha, tăng 8,46% (+55 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thuỷ sản là 4.731 tấn, tăng 15,64% (+640 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Sản lượng nuôi trồng nước ngọt là 3.029 tấn, tăng 16,99% (+440 tấn), sản lượng khai thác nước ngọt là 1.702 tấn, tăng 13,32% (+200 tấn).

Sản lượng thủy sản tăng so với cùng kỳ năm trước là do diện tích nuôi trồng thủy sản tăng. Bên cạnh đó việc khai thác đánh bắt của các hộ trên lòng hồ thủy lợi, thủy điện, sông suối... thuận lợi nên sản lượng thủy sản trong kỳ tăng lên.

2. Công nghiệp

- Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 11 năm 2019

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 11 năm 2019 ước tính tăng 21,30% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 18,73%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 21,73%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 25,15%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,36%.

So với tháng trước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 11/2019 ước tính tăng 7,17%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 5,04%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,75%, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,34%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,85%.

Nguyên nhân chỉ số tăng so với cùng kỳ là do sản lượng điện sản xuất tăng, so với cùng thời điểm năm trước thì hiện tại lượng nước trong các hồ chứa đảm bảo cho hoạt động sản xuất điện của doanh nghiệp, các doanh nghiệp đã chủ động điều tiết lượng nước nên sản lượng điện sản xuất tăng.

So với tháng trước chỉ số ngành công nghiệp chế biến tăng do các nhà máy sản xuất tinh bột sắn trên địa bàn tỉnh đã hoạt động ổn định, nguồn nguyên liệu đảm bảo, lượng tinh bột sắn sản xuất tăng; ngoài ra các công ty thuộc ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cũng nhận được nhiều đơn hàng mới đã tăng cường sản xuất nên lượng sản phẩm tăng.

- Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp 11 tháng năm 2019

Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng năm 2019 tăng 16,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 9,41%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,57%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 14,71%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,92%.

Ước tính một số sản phẩm sản xuất 11 tháng năm 2019 so với cùng kỳ năm trước như sau: Đá xây dựng khai thác 453.543 m3, tăng 0,53%; Tinh bột sắn sản xuất 237.428 tấn, tăng 15,27%; Đường RE 11.793 tấn, giảm 26,77%; Gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn đạt 234,875 triệu viên, tăng 17,28%; Điện sản xuất 1.245,13 triệu Kwh, tăng 15,35%.

Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất ngành công nghiệp của các đơn vị, cơ sở trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong 11 tháng năm 2019 tương đối ổn định, một số nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì hoạt động ổn định và phát triển, có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Ngành sản xuất bàn, ghế tình hình tiêu thụ sản phẩm đến thời điểm hiện tại có thuận lợi hơn. Các ngành sản xuất khác như sản xuất trang phục, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn và khoáng phi kim loại… tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm tương đối ổn định.

3. Vốn đầu tư

- Ước tính vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh tháng 11 năm 2019 là 113.125 triệu đồng, tăng 6,66% so với cùng kỳ. Trong tổng số nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý, chia ra:

Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh là 76.024 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 67,20% trong tổng số nguồn vốn. Chia ra: nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh là 33.714 triệu đồng chiếm 44,35%; nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu là 9.134 triệu đồng, chiếm 12,01%; nguồn vốn ODA là 28.154 triệu đồng, chiếm 37,03%; nguồn vốn xổ số kiến thiết là 4.004 triệu đồng, chiếm 5,27%; nguồn vốn khác là 1.018 triệu đồng, chiếm 1,34% trong tổng nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh.

Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện là 37.004 triệu đồng, tăng 47,63% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 32,71% trong tổng số nguồn vốn. Chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn như đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa... trên địa bàn các huyện, thành phố thuộc tỉnh, trong đó: vốn cân đối ngân sách huyện là 11.235 triệu đồng, chiếm 30,36%; nguồn vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu là 21.664 triệu đồng, chiếm 58,55% và nguồn vốn khác là 4.105 triệu đồng chiếm 11,09% trong tổng nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện.

- Ước tính vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh 11 tháng năm 2019 là 1.235.958 triệu đồng, tăng 5,51% so với cùng kỳ. Trong tổng số nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý, chia ra:

Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh là 894.979 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 72,41% trong tổng số nguồn vốn, giảm 2,66% so với cùng kỳ. Chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng trên địa bàn tỉnh về lĩnh vực thuỷ lợi, giao thông, giáo dục, y tế, cấp nước sinh hoạt nông thôn, đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới,... Chia ra: nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh là 538.453 triệu đồng chiếm 60,16%; nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu 121.615 triệu đồng, chiếm 13,59%; nguồn vốn ODA là 172.679 triệu đồng chiếm 19,29%; nguồn vốn xổ số kiến thiết là 54.547 triệu đồng, chiếm 6,09%; nguồn vốn khác là 7.685 triệu đồng, chiếm 0,86% trong tổng nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh.

Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện là 339.839 triệu đồng, tăng 35,19% so với cùng kỳ và chiếm tỷ trọng 27,50% trong tổng số nguồn vốn. Chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn như đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa... trên địa bàn các huyện, thành phố, trong đó: vốn cân đối ngân sách huyện là 119.639 triệu đồng, chiếm 35,21%; nguồn vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu là 197.114 triệu đồng, chiếm 58,00% và nguồn vốn khác là 23.086 triệu đồng chiếm 6,79% trong tổng nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện.

Nguồn vốn thuộc ngân sách cấp xã là 1.140 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 0,09% trong tổng số nguồn vốn, trong đó vốn cân đối ngân sách xã là 230 triệu đồng, chiếm 20,18%; nguồn vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu là 910 triệu đồng, chiếm 79,82%.

4. Thương mại, dịch vụ và giá cả

a) Bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 11 năm 2019 đạt 1.712.989 triệu đồng, tăng 0,27% so với tháng trước và tăng 13,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 1.424.769 triệu đồng, chiếm 83,17% trong tổng mức, tăng 0,25% so với tháng trước và tăng 13,75% so với cùng kỳ năm trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 191.452 triệu đồng, chiếm 11,18% trong tổng mức, tăng 1,04% so với tháng trước và tăng 7,41% so với cùng kỳ năm trước; Ngành dịch vụ đạt 96.768 triệu đồng, chiếm 5,65% trong tổng mức, giảm 0,94% so với tháng trước và tăng 11,77% so với cùng kỳ năm trước.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh 11 tháng năm 2019 ước tính đạt 17.487.854 triệu đồng, tăng 13,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 14.510.427 triệu đồng, chiếm 82,97% trong tổng mức và tăng 13,75%; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 1.942.732 triệu đồng, chiếm 11,11% trong tổng mức và tăng 7,41%; Ngành dịch vụ đạt 1.034.695 triệu đồng, chiếm 5,92% trong tổng mức và tăng 11,77%.

Nguyên nhân tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ trong 11 tháng năm 2019 tăng so với cùng kỳ năm trước là do: trong 11 tháng năm 2019 giá cả các mặt hàng tương đối ổn định và phù hợp với thu nhập của số đông người tiêu dùng nên sức mua tăng; một số doanh nghiệp kinh doanh thương mại đã tăng cường triển khai các chương trình khuyến mại đối với một số mặt hàng, thay đổi mẫu mã và nâng cao chất lượng hàng hóa nhằm kích thích lượng tiêu dùng cũng như sức mua của người dân; mặt khác các ngành sản xuất khác phát triển tương đối ổn định, thu nhập của người dân trên địa bàn tỉnh tăng và chi tiêu cho đời sống theo đó cũng tăng lên đã làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tăng. Bên cạnh đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tăng cũng do các ngành kinh tế khác phát triển ổn định đã ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của một số ngành như dịch vụ lưu trú, kinh doanh bất động sản, dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ...

b) Vận tải

- Kết quả hoạt động vận tải, kho bãi ước tính tháng 11 năm 2019

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính tháng 11 năm 2019 đạt 155.511,8 triệu đồng, tăng 1,54% so với tháng trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 58.455,8 triệu đồng, tăng 0,38%; Vận chuyển ước đạt 1.100,63 nghìn lượt khách, tăng 0,30%; Luân chuyển ước đạt 141.542,44 nghìn lượt khách.km, tăng 0,49%.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước đạt 96.393,0 triệu đồng, tăng 2,25%; Vận chuyển ước đạt 1.098,14 nghìn tấn, tăng 3,23%; Luân chuyển ước đạt 55.535,99 nghìn tấn.km, tăng 3,45%.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu ước đạt 663,0 triệu đồng, tăng 1,38%.

- Kết quả hoạt động vận tải, kho bãi ước tính 11 tháng năm 2019

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính 11 tháng năm 2019 đạt 1.641.760,4 triệu đồng, tăng 11,26% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 621.589,5 triệu đồng, tăng 9,34%; Vận chuyển ước đạt 11.596,15 nghìn lượt khách, tăng 8,85%; Luân chuyển ước đạt 1.474.431,92 nghìn lượt khách.km, tăng 9,15%.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước đạt 1.013.373,4 triệu đồng, tăng 12,47%; Vận chuyển ước đạt 11.344,43 nghìn tấn, tăng 10,15%; Luân chuyển ước đạt 571.592,66 nghìn tấn.km, tăng 11,49%.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu ước đạt 6.797,5 triệu đồng, tăng 12,09%.

c) Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 năm 2019 tăng 0,82% so với tháng trước; tăng 1,93% so với cùng kỳ năm trước; tăng 2,37% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân 11 tháng năm 2019 so với cùng kỳ năm trước tăng 1,37%.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, so với tháng trước có 07 nhóm tăng: nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,88%; nhóm Đồ uống và thuốc lá tăng 0,29%; nhóm May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,10%; nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,2%; nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,03%; nhóm Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,15%; nhóm Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,64%. Có 02 nhóm giảm là nhóm Giao thông giảm 0,72%; nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,71%. Có 02 nhóm không biến động giá là nhóm Thuốc và dịch vụ y tế và nhóm Giáo dục.

Giá vàng biến động theo giá vàng thế giới và trong nước với xu hướng giảm so với tháng trước, giá vàng 9999 trên địa bàn tỉnh tháng 11/2019 được bán với giá bình quân khoảng 3.935.000 đồng/chỉ, giảm 0,61% so với tháng trước; tỷ giá USD/VND bình quân giao dịch ở mức 23.053 đồng/USD giảm 0,01%.

5. Một số tình hình xã hội

a) Y tế tháng 10/2019

- Tình hình dịch bệnh

Sốt xuất huyết Dengue: trong tháng, ghi nhận 279 ca mắc mới, tăng 33 ca so với tháng trước và tăng 153 ca so với tháng 10/2018; trong đó, ghi nhận 58 ổ dịch mới. Lũy tích đến 31/10/2019, ghi nhận 1.473 ca mắc (trong đó tử vong 01), tăng 1.084 ca so với cùng kỳ năm trước.

Tay - Chân - Miệng: trong tháng, ghi nhận 05 ca mắc mới, bằng so với tháng trước và giảm 61 ca so với tháng 10/2018. Lũy tích đến 31/10/2019, ghi nhận 100 ca mắc, không có tử vong, giảm 65 ca so với cùng kỳ năm trước.

Thủy đậu: trong tháng, ghi nhận 16 ca mắc mới, tăng 09 ca so với tháng trước và tăng 02 ca so với tháng 10/2018. Lũy tích đến 31/10/2019, ghi nhận 399 ca mắc, không có tử vong, tăng 36 ca so với cùng kỳ năm trước.

Sởi: trong tháng, ghi nhận 01 ca mắc mới, giảm 08 ca so với tháng trước và tăng 01 ca so với tháng 10/2018. Lũy tích đến 31/10/2019, ghi nhận 63 ca mắc, không có tử vong, tăng 63 ca so với cùng kỳ năm trước.

Quai bị: trong tháng, ghi nhận 22 ca mắc mới, tăng 10 ca so với tháng trước và tăng 09 ca so với tháng 10/2018. Lũy tích đến 31/10/2019, ghi nhận 308 ca mắc, không có tử vong, tăng 25 ca so với cùng kỳ năm trước.

Sốt rét: trong tháng, ghi nhận 03 ca mắc mới, giảm 09 ca so với tháng trước và giảm 30 ca so với tháng 10/2018. Lũy tích đến 31/10/2019, ghi nhận 73 ca mắc, không có sốt rét ác tính, không có tử vong và giảm 122 ca so với cùng kỳ năm trước.

Lao: tổng số bệnh nhân lao đăng ký điều trị 37 bệnh nhân, trong đó lao phổi AFB (+) 26 và lao kháng thuốc 01.

Phát hiện 01 bệnh nhân phong mới, không ghi nhận mắc mới các bệnh do vi rút Zika, viêm não Nhật Bản, viêm gan vi rút A, dại, ho gà, bạch hầu.

- Phòng chống HIV/AIDS

Trong tháng, ghi nhận 02 người nhiễm HIV (xét nghiệm phát hiện khẳng định tại Trung tâm Kiểm soát bệnh tật 01 và 01 bệnh nhân nơi khác chuyển đến) và 01 bệnh nhân chuyển đi nơi khác. Lũy tích nhiễm HIV/AIDS tính đến ngày 31/10/2019: 496 người, trong đó số người tử vong do AIDS 187, số người nhiễm HIV/AIDS còn sống 309 người (đang quản lý được 150 người). Số bệnh nhân HIV/AIDS điều trị ARV 117 người (05 trẻ em); điều trị dự phòng lao bằng Isoniazid (INH) 06 người.

- An toàn vệ sinh thực phẩm

Tuyến tỉnh kiểm tra việc bảo đảm an toàn thực phẩm tại các trường có tổ chức bếp ăn tập thể, bếp ăn tập thể khu công nghiệp và căng tin ăn uống trên địa bàn tỉnh: Tổng số bếp ăn tập thể được kiểm tra là 43 cơ sở, số bếp ăn tập thể bảo đảm các điều kiện về an toàn thực phẩm qua kiểm tra là 33.

Tuyến huyện kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống: Tổng số cơ sở được kiểm tra: 19 cơ sở, 11 cơ sở đạt chiếm tỷ lệ 57,9%, nhắc nhở 08 cơ sở.

Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong tháng không ghi nhận vụ ngộ độc thực phẩm.

b) Tình hình giáo dục

Ngày 25/10, Đoàn trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ II, nhiệm kỳ 2019-2022. Đoàn trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum có 5 Liên Chi đoàn với 653 đoàn viên thanh niên. Trong gần 2 năm qua, công tác Đoàn và phong trào thanh niên nhà trường đã đạt được những kết quả tích cực. Các hoạt động tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng được triển khai sâu rộng, thu hút sự quan tâm, ủng hộ của xã hội. Phong trào tuổi trẻ sáng tạo tiếp tục được mở rộng; các cuộc thi sáng tạo trẻ, đã tạo môi trường, động lực cho đoàn viên thanh niên thi đua sáng tạo. Đoàn trường đã xây dựng 1 cổng thông tin điện tử, tạo 3 trang facebook, 1 kênh youtube, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đoàn trường đã tổ chức các cuộc thi ý tưởng khởi nghiệp, tập huấn khởi nghiệp, xây dựng 1 website chuyên hỗ trợ đoàn viên thanh niên trong khởi nghiệp, định hướng giá trị bản thân, khai thác các trang facebook để hỗ trợ giới thiệu việc làm cho đoàn viên thanh niên trong trường.

Nhân dịp Kỷ niệm 37 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982-20/11/2019), sáng 19/11, Thường trực Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh do đồng chí Y Mửi - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy làm trưởng đoàn đã đi thăm, tặng hoa, chúc mừng Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh, Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum và Trường Chính trị tỉnh.

c) Hoạt động văn hóa, thể thao

Từ ngày 15-22/10/2019, Trung tâm Văn hóa - Thể thao - Du lịch và Truyền thông huyện Kon Plông tổ chức Giải bóng đá nam 7 người năm 2019 nhân kỷ niệm 45 năm Ngày giải phóng huyện Kon Plông (30/10/1974-30/10/2019), đồng thời chào mừng thị trấn Măng Đen vừa được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết thành lập. Tham dự giải có 16 đội đến từ các cơ quan, đơn vị, các xã, thị trấn và các doanh nghiệp trên địa bàn huyện.

Trong 02 ngày (26-27/10/2019), Khối thi đua các cơ quan tham mưu quản lý nhà nước về kinh tế - kỹ thuật tổ chức Hội thao với sự tham gia của cán bộ, viên chức, người lao động trong khối. Tham gia Hội thao có 160 vận động viên đến từ 8 đội thuộc Sở Giao thông Vận tải, Xây dựng, Tài nguyên và Môi Trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công thương, Ban quản lý Khu kinh tế, Ban quản lý các công trình thủy lợi và Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng.

Sáng 08/11/2019, Sở GD-ĐT tổ chức khai mạc giải bóng đá nam 05 người dành cho cán bộ, giáo viên và nhân viên trong ngành, chào mừng kỷ niệm 37 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2019). Giải đấu thu hút 325 vận động viên đến từ 24 đội bóng. Trong đó, có 5 đội trực thuộc các phòng GD-ĐT và 19 đội của khối các đơn vị trực thuộc Sở GD-ĐT.

Trong 02 ngày 16-17/11/2019, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tổ chức Giải quần vợt tỉnh Kon Tum mở rộng năm 2019. Tham gia giải có 116 vận động viên nam, nữ của 13 đơn vị (tỉnh Kon Tum có 12 đơn vị và 01 đơn vị đến từ thành phố Đà Nẵng).

d) An ninh trật tự - An toàn giao thông (ANTT-ATGT)

- Tình hình ANTT – ATGT tháng 10/2019

+ Vi phạm pháp luật về trật tự xã hội (TTXH): Phát hiện 45 vụ (tăng 09 vụ so với tháng trước), hậu quả chết 04 người, bị thương 05 người, thiệt hại: 02 ô tô, 14 mô tô, 01 tivi, 02 ĐTDĐ và 333.390.000 đồng tiền mặt.

+ Tội phạm về ma túy: phát hiện 11 vụ, trong đó: Tàng trữ trái phép chất ma túy 10 vụ, mua bán trái phép chất ma túy 01 vụ.

+ Tội phạm kinh tế: Phát hiện 05 vụ, trong đó: Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm 03 vụ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản 01 vụ, vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản 01 vụ.

+ Tai nạn giao thông: xảy ra 08 vụ (tăng 06 vụ so với tháng trước). Hậu quả: chết 06 người, bị thương 09 người, hư hỏng 04 ô tô, 9 mô tô, 01 xe đạp.

- Tình hình ANTT – ATGT 10 tháng năm 2019

+ Vi phạm pháp luật về trật tự xã hội (TTXH): Phát hiện 374 vụ, thiệt hại: chết 32 người, bị thương 112 người, mất 51 mô tô, 27 ĐTDĐ, 05 laptop, 01 tivi, 4.796.964.000 đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá 421,5 triệu đồng.

+ Tội phạm về ma túy: phát hiện 60 vụ, trong đó: tàng trữ trái phép chất ma túy 54 vụ, vận chuyển trái phép chất ma túy 03 vụ, mua bán trái phép chất ma túy 03 vụ. Thu giữ 03 ĐTDĐ, 29 gói bột màu trắng (nghi Hêroin), 2.038,13516gr Methamphetamine, 1,8752gr Ketamine, 0,9853gr MDMA, 797,4318gr ma túy đá, 02 gói tinh thể màu trắng nghi ma túy đá, 91.4471 gr hêrôin, 5,6703 gr ma túy tổng hợp.

+ Tội phạm kinh tế: Phát hiện 72 vụ, trong đó: Vận chuyển hàng cấm 16 vụ, vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản 22 vụ, cho vay nặng lãi trong giao dịch nhân sự 03 vụ, làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức 02 vụ, vận chuyển lâm sản trái phép 05 vụ, vi phạm các quy định về an toàn thực phẩm 01 vụ, cất giấu lâm sản trái phép 03 vụ, tàng trữ vận chuyển hàng cấm 08 vụ, buôn bán, tàng trữ hàng cấm 01 vụ, vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm 01 vụ, vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên 03 vụ, vi phạm quy định về an toàn thực phẩm 02 vụ, sử dụng pháo trái phép 03 vụ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ 01 vụ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản 01 vụ.

+ Tai nạn giao thông: xảy ra 49 vụ. Hậu quả: chết 48 người, bị thương 31 người, hư hỏng 31 xe ô tô, 55 mô tô, 06 phương tiện khác.

e) Tình hình cháy, nổ

Trong tháng 10/2019: Xảy ra 04 vụ, trong đó cháy nhà dân 01 vụ, cháy hội trường thôn 01 vụ, cháy nhà rông 01 vụ, cháy lò sấy gỗ 01 vụ, thiệt hại ước tính khoảng 764 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 16 vụ cháy, ước thiệt hại khoảng 2.466 triệu đồng.

Xem và tải về:   Tải về

Cục Thống kê 

TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC