• Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử của Cục Thống kê tỉnh Kon Tum.
  • Địa chỉ: 415 URE - Phường Trường Chinh - Thành phố Kon Tum - Tỉnh Kon Tum.
Thứ Năm, 22/08/2019 20:23
Thông tin kinh tế xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum quý II và 6 tháng năm 2019
Cập nhật: Thứ Hai, 01/07/2019 06:46

 

Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2019 trên địa bàn tỉnh nhìn chung phát triển ổn định. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản được đảm bảo theo đúng lịch thời vụ; sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng; hoạt động thương mại phát triển tương đối khá; công tác an sinh xã hội được bảo đảm; trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Cụ thể ở các ngành, lĩnh vực 6 tháng đầu năm 2019 so với cùng kỳ như sau:

- Ước tính Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh 2010 tăng 8,31%.

- Thu ngân sách Nhà nước ước đạt 1.426.000 triệu đồng, đạt 57,8% dự toán địa phương giao và tăng 14,7%.

- Chi ngân sách địa phương ước đạt 3.549.000 triệu đồng, đạt 38,8% nhiệm vụ chi và tăng 23,9%.

- Ước tính vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn là 6.530.087 triệu đồng, tăng 22,81%.

- Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2019 tăng 14,72%.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước đạt 8.939.856 triệu đồng, tăng 11,94%.

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng đầu năm 2019 tăng 1,49%.

1. Tăng trưởng kinh tế

Ước tính tốc độ tăng tổng sản phẩm (GRDP)  6 tháng đầu năm 2019 tỉnh Kon Tum là 8,31%[1],  trong đó:  Khu vực Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,97%,  khu vực Công nghiệp - Xây dựng tăng 14,68%, riêng công nghiệp tăng 15,88% và khu vực Dịch vụ tăng 6,91%. Trong tốc độ tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đóng góp  0,59 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp - xây dựng đóng góp 4,03 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ đóng góp 3,52 điểm phần trăm, cụ thể:

- Khu vực Nông, lâm, thủy sản có mức tăng trưởng 4,97%, khu vực này có mức tăng khá chủ yếu là do sản lượng cao su tăng 15,5%, sản lượng thủy sản tăng 10,60%, lúa tăng 1,97%.

- Khu vực Công nghiệp - Xây dựng có mức tăng 14,68%, chủ yếu nhờ vào mức tăng cao của các ngành như: ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2019 tăng 14,72% so với cùng kỳ năm trước; Trong đó tăng cao là các ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện (tăng 9,31%), khai khoáng (tăng 19,12%); ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,06%...

- Khu vực Dịch vụ có mức tăng 6,91%, trong đó các hoạt động dịch vụ có mức tăng trưởng cao như: Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính 6 tháng đầu năm 2019 đạt 878.811,6 triệu đồng, tăng 11,56%, Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước đạt 8.939.856 triệu đồng, tăng 11,94%...

2. Tài chính, ngân hàng

a) Thu chi ngân sách

- Thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước đạt 1.426.000 triệu đồng đồng, đạt 57,8% dự toán địa phương giao và bằng 114,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thu nội địa đạt 1.301.000 triệu đồng, đạt 58,3% dự toán; thu hoạt động xuất nhập khẩu đạt 99,13 tỷ đồng, đạt 42,36% dự toán.

- Chi ngân sách địa phương ước đạt 3.549.000 triệu đồng, đạt 38,8% nhiệm vụ chi và bằng 123,9%  so với cùng kỳ, trong đó: Chi đầu tư phát triển do địa phương quản lý khoảng 1.256.000  triệu đồng, đạt 40,2% nhiệm vụ chi và chi thường xuyên là 1.993.000 triệu đồng, đạt 43,2% nhiệm vụ chi.

b) Hoạt động ngân hàng

Tín dụng có tốc độ tăng trưởng tốt, mặt bằng lãi suất cho vay ổn định. Huy động vốn 6 tháng đầu năm ước 15.500 tỷ đồng, đạt 90,64% kế hoạch, bằng 113,1% so với cùng kỳ năm trước; dư nợ tín dụng ước 31.000 tỷ đồng, đạt 95,38% kế hoạch, bằng 118,5% so với cùng kỳ năm trước; nợ xấu là 380 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,23%/tổng dư nợ.

3. Giá cả, lạm phát

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 năm 2019 giảm 0,35% so với tháng trước; tăng 1,06% so cùng kỳ năm trước; tăng 0,69% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân 6 tháng năm 2019 so với cùng kỳ năm trước tăng 1,49%.

Nguyên nhân chủ yếu làm giảm CPI tháng 6 là do: Giá xăng dầu điều chỉnh giảm giá vào ngày 01/6/2019 và 17/6/2019 làm chỉ số nhóm nhiên liệu giảm 3,99% so với tháng trước góp phần làm giảm CPI  khoảng 0,17%; giá gas giảm 33000 đồng mỗi bình loại 12kg, đây là lần đầu tiên trong năm 2019, giá loại nhiên liệu này giảm sau 5 tháng “leo thang”, góp phần làm giảm CPI  khoảng 0,1%.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, so với tháng trước có 04 nhóm tăng: nhóm Đồ uống và thuốc lá tăng 0,13%; nhóm May mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,43%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,05%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,23%. Có 05 nhóm giảm là nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,33%; nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,41%; nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,44%; nhóm Giao thông giảm 1,82%; nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,14%. Có 02 nhóm ổn định là nhóm y tế và nhóm giáo dục.

4. Đầu tư và xây dựng

a) Vốn đầu tư

- Ước tính vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Kon Tum quý II năm 2019 là 3.511.329 triệu đồng, tăng 17,76% so với cùng kỳ năm trước. 

+ Phân theo nguồn vốn

Vốn nhà nước trên địa bàn thực hiện là 990.198 triệu đồng, tăng 30,18% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 28,20% trong tổng số nguồn vốn.

Nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc khu vực ngoài nhà nước là 2.519.384 triệu đồng, tăng 13,55% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 71,75% trong tổng nguồn vốn.

Nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 1.747 triệu đồng, chiếm 0,05% trong tổng nguồn vốn.

+ Phân theo khoản mục đầu tư 

Vốn đầu tư XDCB: 2.709.347 triệu đồng, chiếm 77,16% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư mua sắm TSCĐ dùng cho sản xuất không qua XDCB:  375.144 triệu đồng, chiếm 10,68% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ: 238.876 triệu đồng, chiếm 6,80% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động: 169.321 triệu đồng, chiếm 4,82% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư khác: 18.640 triệu đồng, chiếm 0,53% trong tổng nguồn vốn.

- Ước tính vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Kon Tum 6 tháng đầu năm 2019 là 6.530.087 triệu đồng tăng 22,81% so với cùng kỳ năm trước.

+ Phân theo nguồn vốn

Vốn nhà nước trên địa bàn thực hiện là 1.666.868 triệu đồng, tăng 32,12% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 25,53% trong tổng số nguồn vốn, chủ yếu đầu tư phát triển các chương trình mục tiêu, xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thủy lợi, giao thông, giáo dục, y tế, ...

Nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc khu vực ngoài nhà nước là 4.858.645 triệu đồng, tăng 19,92% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 74,40% trong tổng nguồn vốn, chủ yếu đầu tư của khu vực hộ dân cư trong xây dựng, sửa chữa nhà, chăn nuôi, ...

Nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 4.574 triệu đồng, tăng 15,42% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 0,07% trong tổng nguồn vốn, chủ yếu thực hiện các khoản mục đầu tư mua sắm máy móc thiết bị không qua XDCB, bổ sung vốn lưu động và sửa chữa nâng cấp tài sản cố định của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

+ Phân theo khoản mục đầu tư

Vốn đầu tư XDCB: 5.003.093 triệu đồng, chiếm 76,62% trong tổng nguồn vốn. Trong đó vốn xây dựng và lắp đặt thực hiện 4.067.418 triệu đồng, chiếm 81,30% trong số vốn đầu tư XDCB.

Vốn đầu tư mua sắm TSCĐ dùng cho sản xuất không qua XDCB:  746.494 triệu đồng, chiếm 11,43% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ: 431.484 triệu đồng, chiếm 6,61% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động: 304.875 triệu đồng, chiếm 4,67% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư khác: 44.140 triệu đồng, chiếm 0,68% trong tổng nguồn vốn.

Trong  6 tháng đầu năm 2019, vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh chủ yếu thực hiện các chương  trình mục tiêu, xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế,… trên địa bàn các huyện, thành phố thuộc tỉnh... và một số công trình dự án thuộc  các nguồn vốn chương  trình mục tiêu quốc gia: Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới; nguồn vốn đầu tư theo các chương  trình mục tiêu: Chương trình phát triển kinh tế xã hội các vùng; Chương trình đầu tư phát triển lâm nghiệp bền vững; Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa; Chương trình mục tiêu phát triển hạ tầng du lịch; Chương trình mục tiêu quốc phòng an ninh trên địa bàn trọng điểm...

b) Xây dựng

Trong 6 tháng đầu năm 2019 hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh diễn ra đồng bộ trên các khu vực kinh tế, trong đó tập trung ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và hộ dân cư, chủ yếu xây dựng nhà ở mới với mức đầu tư cao và sửa chữa các công trình khác. Các đơn vị hoạt động xây lắp triển khai thi công các công trình trọng điểm có vốn đầu tư cao trong năm 2019 như:

- Công trình kỹ thuật dân dụng: Đường NT 18 cửa khẩu quốc tế Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, đường bao quanh khu dân cư phía bắc và khu dân cư phía nam thành phố KonTum, đường giao thông Quốc lộ 24 _Đak Côi (km0-km28) Kon Rẫy, đường giao thông phát triển KTXH và đảm bảo quốc phòng an ninh từ xã Rờ Kơi- Sa Thầy đi xã Saloong- Ngọc Hồi (GĐ1), đường giao thông liên xã Sa Bình - Ya Ly huyện Sa Thầy,...

- Công trình thủy lợi: Kè chống sạt lở sông ĐăkBLa đoạn qua PleiĐôn-KonRBang- xã Vinh Quang thành phố Kon Tum, sửa chữa, nâng cấp hồ chứa nước Đắk Pô Kei, sửa chữa nâng cấp thủy lợi ĐăkBlô huyện Đăk Tô, thủy lợi thôn 3 Đăkpxi huyện Đăk Hà, cụm công trình thủy lợi Ia H’Drai, công trình thủy lợi Đắk Long 1 huyện Ngọc Hồi...

- Xây dựng công trình nhà không để ở: Nâng cấp, cải tạo trụ sở làm việc Đảng ủy - HĐND - UBND xã Đoàn Kết, xã Đăk Rơ Wa thành phố Kon Tum, nâng cấp, cải tạo trụ sở làm việc Đảng ủy - HĐND - UBND xã Đăk Ang huyện Ngọc Hồi, nhà khách huyện Đăk Hà, trụ sở làm việc huyện ủy, HĐND-UBND, mặt trận đoàn thể và các công trình phụ trợ  huyện Ia H’Drai, trụ sở làm việc Đảng ủy, HĐND-UBND xã Văn Lem, huyện Tu Mơ Rông, trụ sở làm việc Đảng ủy, HĐND-UBND xã Ngọc Tụ, huyện Đăk Tô, nâng cấp bệnh viện Đa khoa tỉnh Kon Tum từ 400 lên 500 giường...

- Công trình văn hoá: nhà thi đấu đa năng huyện Đăk Glei, sân vận động huyện Đăk Hà, nhà văn hoá xã Tân Lập huyện Kon Rẫy, trung tâm văn hóa- thể thao huyện Kon Rẫy, huyện Sa Thầy, huyện Đăk Hà... 

- Các loại hình kinh tế khác (hộ dân cư, xã/phường/ thị trấn) trong 6 tháng đầu năm 2019 hoạt động xây dựng chủ yếu do hộ dân cư đầu tư xây dựng nhà ở mới, sửa chữa nhà ở và các công trình liên quan (sân, tường rào, nhà kho, các công trình khác)…

5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Tính đến ngày 20/6/2019, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 181 doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký là 1.058,7 tỷ đồng. Nhìn chung trong 6 tháng đầu năm các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hoạt động tương đối ổn định và tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh.

6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

- Trồng trọt

+ Tình hình sản xuất vụ đông xuân 2018 - 2019: Tổng diện tích gieo trồng (DTGT) cây hàng năm vụ đông xuân 2018 - 2019 tỉnh Kon Tum ước đạt: 10.634 ha, giảm 4,40% (-490 ha) so với cùng kỳ vụ đông xuân năm trước. Cụ thể DTGT một số cây trồng như sau:

Cây lúa: 7.123 ha, tăng 0,3% (+21 ha).

Cây ngô: 743 ha, giảm 26,98% (-274 ha). Diện tích cây ngô giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích ngô gieo trồng ở vùng ô cao sang trồng cây khác.

Cây mía: 1.170 ha, giảm 24,93% (-388 ha). Nguyên nhân diện tích mía giảm là do những năm gần đây giá mía giảm từ 1.000 đồng xuống chỉ còn 830 đồng/kg. Trong khi đó giá các chi phí đầu vào ban đầu như phân, cày, công... tăng cao nên hiệu quả kinh tế đối với cây mía thấp. Một số hộ đã chuyển đổi hoặc giảm một phần diện tích sang trồng cây khác mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

Cây lạc: 34 ha, tăng 30,38% (+8 ha).

Cây rau, đậu và hoa các loại: 1.312 ha, tăng 1,94% (+25 ha).

Sản lượng lương thực vụ đông xuân 2018 - 2019 ­ước đạt 36.831 tấn, giảm 1,06% (-394 tấn), trong đó sản lư­ợng lúa 34.178 tấn, tăng 1,68% (+564 tấn); sản lượng ngô 2.653 tấn, giảm 26,53% (-958 tấn).

Năng suất lúa ư­ớc đạt 47,98 tạ/ha, tăng 1,37% (+0,65 tạ/ha). Năng suất ngô ước đạt 35,72 tạ/ha, tăng 0,59% (+0,21 tạ/ha).

+ Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ mùa 2019: Ước đến thời điểm ngày 30/6/2019, tổng DTGT cây hàng năm vụ mùa 2019 tỉnh Kon Tum là: 52.309 ha, tăng 0,51% (+264 ha) so với cùng kỳ vụ mùa năm 2018 cụ thể DTGT một số cây trồng như sau.

Cây lúa: 9.760 ha, tăng 2,49% (+237 ha).

Cây ngô: 3.511 ha, giảm 27,31 % (-1.319 ha).

Cây sắn: 37.548 ha, tăng 3,58% (+1.299 ha).

Khoai lang: 101 ha, tăng 5,21% (+5 ha).

Rau các loại: 1.002 ha, tăng 10,2% (+91 ha).

Hoa các loại: 62 ha, tăng 1,15% (+1 ha).

+ Diện tích cây lâu năm

Sản lượng cây ăn quả trên địa bàn tỉnh không lớn. Khí hậu, thổ nhưỡng ở đây không phù hợp với các loại cây ăn quả. Diện tích chủ yếu trồng rải rác ở các khu vườn hộ dân, trồng xen trong vườn cây công nghiệp, sản lượng thu hoạch chủ yếu phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày.

Diện tích, sản lượng cây công nghiệp lâu năm cũng không nhiều so với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên, diện tích cây công nghiệp lâu năm chủ yếu là cao su và cà phê.

Hiện nay, diện tích cây cà phê là 20.488 ha, tăng 14,12% (+2.535 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cà phê tăng do giá cà phê những năm gần đây tương đối ổn định, hiệu quả kinh tế hơn hẳn các loại cây công nghiệp lâu năm khác nên người dân quan tâm đầu tư mở rộng.

Diện tích cây cao su là 74.345 ha, giảm 0,51% (-379 ha), đây là diện tích cao su hết chu kỳ khai thác được phá bỏ. Các năm gần đây giá bán mủ cao su giảm nhiều nên ít được đầu tư trồng mới.

Trong 6 tháng đầu năm, cây cà phê chưa cho sản lượng thu hoạch. Đối với cây cao su sản lượng thu hoạch cũng không nhiều vì giai đoạn này cây thay lá nên không khai thác được, sản lượng thu hoạch cao su 6 tháng tăng so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do diện tích cho sản phẩm tăng.

- Tình hình chăn nuôi 

Tổng đàn trâu 23.995 con, tăng 1,14% (+270 con) so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, đàn trâu trên toàn tỉnh ổn định về tổng đàn. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm 2019 là 340 tấn, tăng 1,2% (+4 tấn) so với cùng kỳ năm trước.  

Tổng đàn bò 78.320 con, tăng 3,65% (+2.758 con) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng cả năm là 2.885 tấn, tăng 4,1% (+113 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân làm cho đàn bò tăng là do trong kỳ điều tra ít xảy ra dịch bệnh, giá cả thịt bò hơi ổn định, người chăn nuôi yên tâm đầu tư làm cho đàn bò tăng lên.

Tổng đàn dê 22.020 con, tăng 9,4% (+1.897 con) so với cùng kỳ năm trước. Đàn dê tăng cao là do trong năm Công ty cổ phần dược liệu và thực phẩm Măng Đen đã mua đưa vào chăn nuôi tại thôn Tu Rằng xã Măng Cành để lấy sữa.

Tổng đàn lợn 132.715 con, tăng 0,94% (+1.240 con)  so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 9.325 tấn, tăng 1,2% (+107 tấn) so với cùng kỳ năm trước.    

Tổng đàn gia cầm 1.453.870 con, tổng đàn gia cầm tăng 24,67% (+287.710 con) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: đàn gà 1.265.240 con, tăng 26,72% (+266.750 con). Sản lượng thịt hơi gia cầm 1.209 tấn, tăng 16,5% (+171,2 tấn) so với cùng kỳ năm trước, trong đó thịt gà 1.055 tấn. Sản lượng trứng gia cầm 11.444.500 quả, trong đó trứng gà 10.150.000 quả. Đàn gia cầm tăng cả về số lượng  đầu con và sản phẩm là do trong kỳ dịch bệnh xảy ra ít, hộ chăn nuôi đã tăng đầu tư chăm sóc tốt cho đàn gia cầm. Bên cạnh đó trên địa bàn tỉnh phát triển thêm hợp tác xã chăn nuôi gà với quy mô 60.000 con gà. 

+ Tình hình dịch bệnh trong 6 tháng đầu năm 2019

Bệnh lở mồm long móng: Có 131 hộ chăn nuôi ở 55 thôn/32 xã, phường thị trấn của 06 huyện, thành phố, có 4.024 con gia súc mắc bệnh (4.011 con heo và 13 con bò), số gia súc mắc bệnh phải tiêu hủy là 4.011 con heo, đã điều trị khỏi các triệu chứng lâm sàng của bệnh LMLM cho 13 con bò.

Bệnh dịch tả lợn châu phi: Ngày 27/5 đến ngày 30/5 xuất hiện ổ dịch tả lợn Châu Phi của Chi nhánh công ty 716 - Binh đoàn 15 tại thôn 1, xã Ia Tơi, huyện Ia H’Drai. Có 43 con bị bệnh đã chết và tiêu hủy 16 con đang bị bệnh theo quy định. Hướng dẫn địa phương triển khai các biện pháp phòng, chống dịch tả lợn Châu Phi. Hiện ổ dịch đã qua 12 ngày kể từ khi tiêu hủy lợn mắc bệnh cuối cùng và chưa phát sinh ổ dịch mới. Ngày 23/6, sau khi có kết quả xét nghiệm dương tính với bệnh dịch tả lợn châu Phi đối với các mẫu bệnh phẩm trên đàn lợn ở huyện Đăk Hà, Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Kon Tum đã phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Đăk Hà tiêu hủy toàn bộ 80 con lợn đang có trong lò mổ tại cơ sở giết mổ tập trung tổ dân phố 3B, thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà và đóng cửa lò mổ 5 ngày để vệ sinh khử trùng, tiêu độc. Ủy ban nhân dân huyện Đăk Hà cũng đã ra quyết định công bố dịch tả lợn châu Phi trên địa bàn huyện. Vùng dịch là cơ sở giết mổ tập trung tổ dân phố 3B, thị trấn Đăk Hà và vùng bị uy hiếp là xã Hà Mòn, Đăk La, Đăk Ngọk và Đăk Mar.

Bệnh dịch tai xanh ở lợn: Xuất hiện 04 ổ dịch tai xanh tại huyện Đắk Tô và thành phố Kon Tum, tổng số lợn đã tiêu hủy 104 con lợn bị mắc bệnh.

Bệnh cúm gia cầm: Bệnh Cúm gia cầm A/H5N6 xảy ra trên địa bàn tỉnh và đã tiêu hủy 3.286 con (1.250 gà, 2.036 vịt).

b) Lâm nghiệp

Thực hiện Công văn số 1019/UBND-NNTN, ngày 02/5/2019 của UBND tỉnh về việc triển khai các giải pháp cấp bách phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh, các ngành chức năng, các đơn vị chủ rừng tiếp tục thực hiện nghiêm túc các giải pháp cấp bách trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng. Tính đến 15/6/2019, trên địa bàn tỉnh không xảy cháy rừng.

Tính đến ngày 15/6/2019, trên địa bàn tỉnh xảy ra 49 vụ phá rừng trái pháp luật với diện tích thiệt hại là 7,774 ha, tăng 19 vụ (+0,061 ha) so với cùng kỳ năm trước. Các cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.

Ước tính đến ngày 30/6/2019, trên địa bàn tỉnh lượng gỗ  khai thác là 62.500 m3, tăng 5,83% (+3.440 m3) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi khai thác là 135.200 ste, tăng 1,5% (+2.000 Ste) so với cùng kỳ năm trước.

c) Thuỷ sản

Ước tính sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm 2019 tỉnh Kon Tum đạt 2.179 tấn, tăng 10,6% (+208 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

Sản lượng khai thác thủy sản nước ngọt là 775 tấn, tăng 5,2% (+38 tấn).

Sản lượng nuôi trồng thủy sản nước ngọt là 1.404 tấn, tăng 13,8% (+170 tấn).

Nhìn chung sản lượng thủy sản trong kỳ tăng do diện tích nuôi trồng thủy sản tăng, cùng với khai thác đánh bắt của các hộ trên các hồ thủy lợi, thủy điện, sông suối tăng.

7. Sản xuất công nghiệp

- Ước tính chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 6 năm 2019 ước tính tăng 23,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 56,98%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 27,14%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 21,75%; ngành Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,05% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chỉ số tăng là do sản lượng điện sản xuất tăng, so với cùng thời điểm năm trước thì đến thời điểm hiện tại lượng nước trong các hồ chứa tương đối đảm bảo do trên địa bàn đã bắt đầu vào mùa mưa, các doanh nghiệp sản xuất điện đã chủ động điều tiết lượng nước nên sản lượng điện sản xuất tăng; ngoài ra các công ty thuộc ngành khai khoáng, ngành chế biến, chế tạo nhận được nhiều đơn hàng mới đã tăng cường sản xuất nên lượng sản phẩm tăng.

  - Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp quý II năm 2019 tăng 21,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 40,97%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 21,66%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng  20,81%; ngành Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,02% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính một số sản phẩm sản xuất quý II năm 2019 so với cùng kỳ năm trước như sau: Đá xây dựng khai thác 85.761 m3, tăng 33,26%; Tinh bột sắn ước tính sản xuất 37.208 tấn, tăng 32,22%; Đường RE 3.596 tấn, giảm  58,45%; Gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn đạt 43,5 triệu viên, tăng 18,89%; điện sản xuất  314 triệu Kwh, tăng 22,32%.

- Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2019 tăng 14,72% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,12%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,06%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 15,31%; ngành Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,96% so với cùng kỳ năm trước.

  - Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 6/2019 giảm 3,47% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành chiếm tỷ trọng lớn có chỉ số tiêu thụ giảm như ngành sản xuất chế biến thực phẩm giảm 18,67% đã làm cho chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm. Nguyên nhân chủ yếu là do các nhà máy sản xuất tinh bột sắn, bột dong riềng bị giảm các đơn hàng xuất khẩu; các ngành sản xuất thuộc các ngành khác như sản xuất trang phục, sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại…có thị trường tiêu thụ ổn định  tình hình tiêu thụ sản phẩm trong tháng tương đối thuận lợi và chỉ số tiêu thụ tăng tương ứng theo sản lượng sản xuất ra.

- Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính đến thời điểm 30/6/2019 giảm 25,78% so cùng với thời điểm năm trước; đa số các ngành có chỉ số tồn kho giảm so với cùng thời điểm năm trước, riêng chỉ số tồn kho ngành chế biến gỗ tăng 793,75% và ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 390,5%, nguyên nhân do sản lượng sản xuất  tăng, lượng tiêu thụ chậm nên lượng sản phẩm nhập kho cao.

- Xu hướng sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp chế biến chế tạo quý II năm 2019

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2019 cho thấy: Xu hướng tổng quan về tình hình sản xuất kinh doanh chế biến, chế tạo: Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế  biến, chế tạo quý II năm 2019 nhìn chung có xu hướng tốt hơn so với quý trước; trong đó số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất tốt hơn chiếm 62,07%, số doanh nghiệp đánh giá tình hình sẽ giữ nguyên chiếm tỷ lệ 27,59%, số doanh nghiệp đánh giá tình hình có khó khăn hơn chỉ chiếm 10,34%. Trong quý tiếp theo, phần lớn các doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất sẽ được tăng lên, cụ thể tỷ lệ các doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất tăng lên 55,17%, tỷ lệ đánh giá tình hình sản xuất giữ nguyên chiếm 27,59%, số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất giảm đi chiếm tỷ lệ 17,24%, các doanh nghiệp này chủ yếu tập trung ở các ngành sản xuất chế biến thực phẩm.

Xu hướng về khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo: Khối lượng sản phẩm sản xuất là yếu tố quan trọng để đánh giá tình hình sản xuất của doanh nghiệp; trong quý II/2019 có 51,72% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất tăng hơn quý trước; 37,93% số doanh nghiệp đánh giá giữ mức ổn định sản lượng sản xuất; 10,34% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản phẩm sản xuất giảm đi. Trong quý tiếp theo đa số các doanh nghiệp có dự báo lạc quan hơn 55,17% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất sẽ tăng hơn; 27,59% số doanh nghiệp đánh giá giữ mức ổn định sản lượng sản xuất và có 17,24% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản phẩm sản xuất giảm đi.

Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Về các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất tập trung nhất vẫn là nhu cầu thị trường trong nước thấp (có đến 68,97% số doanh nghiệp ảnh hưởng bởi yếu tố này và  55,17% số doanh nghiệp cho rằng đây là yếu tố quan trọng nhất) và tính cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước cao (có đến 58,62% số doanh nghiệp ảnh hưởng bởi yếu tố này và 17,24% số doanh nghiệp cho rằng đây là yếu tố quan trọng nhất), tình trạng thiếu nguyên liệu cho sản xuất cũng là yếu tố ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất của các doanh nghiệp, nhất là các nguyên liệu có tính thời vụ (có 37,93% số doanh nghiệp ảnh hưởng bởi yếu tố này  và 10,34% số doanh nghiệp cho rằng đây là yếu tố quan trọng nhất); các đơn vị cũng cho rằng lãi suất vay vốn hiện nay còn cao nên còn gặp khó khăn về nguồn tài chính, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng không cao, ngoài ra các yếu tố khác như lao động, công nghệ máy móc lạc hậu… đều tác động đến sản xuất nhưng mức độ ảnh hưởng thấp hơn.

Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất ngành công nghiệp của các đơn vị, cơ sở trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong tháng 6 và quý II năm 2019 tương đối ổn định một số nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì hoạt động ổn định và phát triển, có mức tăng trưởng khá so cùng kỳ năm trước, các nhà máy sản xuất tinh bột sắn do nguồn nguyên liệu đảm bảo đã hoạt động tương đối ổn định.  Ngành sản xuất bàn, ghế tình hình tiêu thụ sản phẩm đến thời điểm hiện tại có thuận lợi hơn. Các ngành sản xuất khác như sản xuất trang phục, chế biến gỗ, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại…tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm tương đối ổn định.

8. Thương mại, dịch vụ

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 6 năm 2019 đạt 1.611.394 triệu đồng, tăng 1,85% so với tháng trước và tăng 10,38% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 1.331.407 triệu đồng, chiếm 82,62% trong tổng mức và tăng 1,45% so với tháng trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 182.228 triệu đồng, chiếm 11,31% trong tổng mức và tăng 2,85% so với tháng trước; Ngành dịch vụ đạt 97.759 triệu đồng, chiếm 6,07% trong tổng mức và tăng 5,56% so với tháng trước.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong quý II năm 2019 ước tính đạt 4.722.032 triệu đồng, tăng 13,13% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 3.920.010 triệu đồng, chiếm 83,02% trong tổng mức và tăng 14,52%; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 523.664 triệu đồng, chiếm 11,09% trong tổng mức và tăng 4,27%; Ngành dịch vụ đạt 278.358 triệu đồng, chiếm 5,89% trong tổng mức và tăng 11,84% so với cùng kỳ năm trước.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính 6 tháng đầu năm 2019 đạt 8.939.856 triệu đồng, tăng 11,94% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 7.418.982 triệu đồng, chiếm 82,99% trong tổng mức và tăng 12,76%; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 990.266 triệu đồng, chiếm 11,08% trong tổng mức và tăng 7,06%; Ngành dịch vụ đạt 530.608 triệu đồng, chiếm 5,94% trong tổng mức và tăng 10,20% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ trên địa bàn  tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2019 tăng so với cùng kỳ năm trước là do: 6 tháng đầu năm 2019, cả thời điểm tết Nguyên đán thị trường hàng hoá trước, trong và sau Tết vẫn ổn định, nguồn cung dồi dào, đảm bảo phục vụ nhu cầu của người dân trên địa bàn tỉnh, không có tăng giá đột biến do thiếu hàng, giá cả các mặt hàng tương đối ổn định và phù hợp với thu nhập của số đông người tiêu dùng nên sức mua tăng, một số doanh nghiệp kinh doanh thương mại đã tăng cường triển khai các chương trình khuyến mại đối với một số mặt hàng, thay đổi mẫu mã và nâng cao chất lượng hàng hóa nhằm kích thích lượng tiêu dùng cũng như sức mua của người dân; mặt khác các tháng đầu năm 2019 các ngành sản xuất khác phát triển tương đối ổn định, thu nhập của người dân trên địa bàn tỉnh tăng và chi tiêu cho đời sống theo đó cũng tăng lên đã làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tăng.

b) Vận tải

- Kết quả kinh doanh vận tải, kho bãi ước tính tháng 6 năm 2019

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính tháng 6 năm 2019 đạt 148.706,1 triệu đồng, tăng 1,41% so với tháng trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 56.321,3 triệu đồng, tăng  2,1%; Vận chuyển ước đạt 1.057,48 nghìn lượt khách, tăng 3,01%; Luân chuyển ước đạt 133.678,53 nghìn lượt khách.km, tăng 3,11%.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước đạt 91.778,3 triệu đồng, tăng 0,99%; Vận chuyển ước đạt 1.029,5 nghìn tấn, tăng 1,63%; Luân chuyển ước đạt 51.775,24 nghìn tấn.km, tăng  1,51%.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu ước đạt 606,5 triệu đồng, tăng 0,92%.

Doanh thu và khối lượng vận chuyển hành khách tăng so với tháng trước là do tháng 6 là tháng học sinh nghỉ hè nên nhiều phụ huynh tranh thủ thời gian này đưa con về thăm quê và đi tham quan, du lịch do đó nhu cầu đi lại của người dân tăng. Doanh thu và khối lượng vận chuyển hàng hoá trong tháng tăng so với tháng trước là do hoạt động vận chuyển hàng hóa phục vụ ngành xây dựng tăng.

- Kết quả kinh doanh vận tải, kho bãi ước tính quý II năm 2019

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính quý II năm 2019 đạt  441.087,1 triệu đồng, tăng 11,32 % so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 166.417,8 triệu đồng,  tăng  9,38%; Vận chuyển ước đạt 3.101,01 nghìn lượt khách, tăng 7,57%; Luân chuyển ước đạt 391.477,67 nghìn lượt khách.km, tăng 7,12%.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước đạt 272.867,8 triệu đồng, tăng 12,53%; Vận chuyển ước đạt 3.046,25 nghìn tấn, tăng 9,38%; Luân chuyển ước đạt 153.151,58 nghìn tấn.km, tăng 11,22%.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu ước đạt 1.801,5 triệu đồng, tăng 11,38%.

- Kết quả kinh doanh vận tải, kho bãi ước tính 6 tháng đầu năm 2019

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính 6 tháng đầu năm 2019 đạt  878.811,6 triệu đồng, tăng 11,56 % so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 331.876,6 triệu đồng,  tăng  9,78%; Vận chuyển ước đạt 6.125,31 nghìn lượt khách, tăng 7,29%; Luân chuyển ước đạt 772.773,29 nghìn lượt khách.km, tăng  7,11%.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước đạt 543.356,0 triệu đồng, tăng 12,67%; Vận chuyển ước đạt 6.047,81 nghìn tấn, tăng 9,32%; Luân chuyển ước đạt 304.315,45 nghìn tấn.km, tăng 10,89%.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu ước đạt 3.579,0 triệu đồng, tăng 13,18%.

9. Các vấn đề xã hội

a) Dân số, đời sống dân cư

- Dân số, lao động

Ước tính dân số đến 30/6/2019 của tỉnh Kon Tum là 545.150 người, tăng 18,96‰ so với cùng kỳ năm trước.

Công tác lao động, giải quyết việc làm được quan tâm; Tổng số lao động được tạo việc làm thông qua Chương trình việc làm từ đầu năm đến nay là 662/1.650 lao động, đạt 40,1% kế hoạch đề ra.

Tổng số lượt tư vấn, giới thiệu việc làm và học nghề từ đầu năm đến nay là 544 lượt người; tổng số lao động được cung ứng cho các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh từ đầu năm đến nay là 366 lao động.

Xuất khẩu lao động: Trong 5 tháng đầu năm 2019, có 158 lao động tham gia xuất khẩu lao động  ở thị trường các nước (trong đó: Ả rập xê út 97; Nhật bản  25; Hàn Quốc 17; Đài Loan 14; Malaysia 05).

Số người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp là 132 người (DTTS: 38 người), số người đã có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp 105 người.

Ngày việc làm lần thứ VIII năm 2019 có 14 đơn vị trực tiếp tham gia tuyển dụng, tuyển sinh; còn lại 48 doanh nghiệp ủy quyền Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Kon Tum, tư vấn tuyển chọn và tiếp nhận hồ sơ tìm việc làm của người lao động. Qua ngày việc làm có gần 500 lượt lao động trực tiếp tham gia phỏng vấn tại các đơn vị, doanh nghiệp (Trong đó có 55 người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp đến tìm hiểu thông tin về việc làm, học nghề để tìm kiếm việc làm mới, sớm quay lại thị trường lao động), có 255 lao động đăng ký học nghề, xuất khẩu lao động và tuyển dụng làm việc tại các đơn vị, doanh nghiệp.

Đã tiến hành khảo sát vị trí việc làm, nhu cầu sử dụng lao động tại các doanh nghiệp, nguồn lao động tại địa phương để xây dựng kế hoạch cung ứng lao động. Tính đến 30/4/2019, tổng số người tham gia BHXH, BHYT, BHTN là 472.581 người, tăng 5.429 người so với cùng kỳ năm trước (tăng 1,16%). Theo tổng hợp từ Ngân hàng Chính sách xã hội, đến nay đã giải ngân cho vay 12,2 tỷ đồng, tạo việc làm mới thông qua nguồn vốn cho 138 lao động. Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị và tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn được duy trì ở mức thấp và giảm so với cùng kỳ năm trước.

- Đời sống dân cư

Trong 6 tháng đầu năm 2019 một số mặt hàng tăng giá như: giá điện, xăng dầu đã phần nào ảnh hưởng đến chi tiêu của người dân, giá cả các mặt hàng thiết yếu tăng nhẹ, không đột biến, nhất là các mặt hàng thuộc nhóm hàng lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu. Tình hình sâu bệnh trên cây trồng, dịch bệnh trên đàn gia súc, tình hình thời tiết bất lợi, hiện tượng khô hạn, thiếu nước cho sản xuất phần nào làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân, nhất là người dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa nguồn thu chủ yếu từ các hoạt động nông nghiệp; tình hình sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế tương đối ổn định; thành phần kinh tế hộ gia đình chuyển biến tích cực, đã tạo được việc làm ổn định cho người lao động. Đời sống dân cư trên địa bàn 6 tháng đầu năm ổn định.

+ Đời sống cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương: Thực hiện Nghị định 72/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định từ ngày 01/7/2018 điều chỉnh tăng mức lương cơ sở từ 1.300.000 đồng/tháng lên 1.390.000 đồng/tháng (tăng 6,92%), áp dụng cho các đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động ở trung ương, cấp tỉnh, huyện, xã, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang. Vì vậy, đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang dần được cải thiện hơn so với năm trước.

+ Thực trạng đời sống dân cư nông thôn

Ngay sau Tết nguyên đán trên cơ sở kế hoạch ra quân phát động phong trào xây dựng nông thôn mới đầu năm 2019 trên địa bàn tỉnh; UBND các huyện, thành phố đã chỉ đạo các xã lựa chọn công trình, chuẩn bị các điều kiện cần thiết, huy động nhân lực của địa phương để đồng loạt ra quân xây dựng nông thôn mới, với sự tham gia hưởng ứng của các tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp và người dân trên địa bàn tỉnh cùng sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự nỗ lực của các Sở, ngành, trong quá trình thực hiện đã đạt được những thành quả nhất định như: hạ tầng nông thôn được cải thiện rõ rệt; diện mạo nông thôn đã có sự chuyển biến tích cực; nhận thức của người dân về xây dựng nông thôn mới đã có những thay đổi, nhờ đó phong trào xây dựng nông thôn mới đã trở thành một phong trào thi đua sâu rộng trong toàn dân, được nhân dân ủng hộ và đồng lòng triển khai thực hiện; đời sống của người dân nông thôn đã được cải thiện đáng kể, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng; Chương trình mục tiêu Quốc gia nông thôn mới trên địa bàn tỉnh, đến nay đã có 18 xã đạt chuẩn 19/19 tiêu chí nông thôn mới (trong đó có 17 xã được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới).

Tình hình kinh tế - xã hội của các xã đạt chuẩn nông thôn mới ngày càng khởi sắc và theo hướng phát triển bền vững, giá trị sản lượng nông nghiệp của toàn tỉnh liên tục tăng, chủng loại cây trồng, vật nuôi đa dạng hơn, nhiều sản phẩm nông nghiệp có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận người dân thuộc khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh dần được cải thiện đáng kể. Song, kinh tế ở nông thôn vẫn là khu vực chậm phát triển, sản xuất nông nghiệp vẫn mang nặng tính chất của nền sản xuất nhỏ, manh mún, tự cung tự cấp, nguồn lực lao động, tài nguyên khai thác, sử dụng còn hạn chế. Thu nhập của người dân ở khu vực nông thôn tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn khoảng cách khá xa so với khu vực thành thị, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Nhiều hộ gia đình ở nông thôn tuy đã thoát khỏi hộ nghèo, nhưng thực tế thu nhập chỉ cao hơn mức chuẩn nghèo không đáng kể. Người nông dân chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các thành tựu khoa học phát triển, các dịch vụ cơ bản như: vệ sinh, môi trường, y tế, giáo dục... Hệ thống hạ tầng nông thôn còn lạc hậu, chất lượng tương đối thấp.

- Công tác giảm nghèo

Thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bền vững là chủ trương lớn của Đảng, là nhiệm vụ trọng tâm vừa có tính cấp bách, vừa có tính chiến lược lâu dài của cả hệ thống chính trị và nhân dân nhằm cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của các hộ nghèo, tạo cho hộ nghèo có cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản.

- Bảo trợ xã hội

Nhân dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019, để nhân dân trên toàn tỉnh đón Tết vui tươi, an toàn, lành mạnh và tiết kiệm, nhất là những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, đối tượng chính sách. Các cơ quan, đơn vị, địa phương đã quan tâm, tổ chức thăm hỏi, động viên và tặng quà cho người nghèo, gia đình chính sách, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và những đối tượng yếu thế… để tất cả mọi người, mọi nhà đều đón Tết cổ truyền của dân tộc trong không khí vui tươi, đầm ấm, cụ thể như sau:

Đã tiếp nhận và phân bổ 201 tấn gạo hỗ trợ của Chính phủ cho 3.731 hộ với 13.400 khẩu thiếu đói dịp Tết 2019.

Thường trực Tỉnh ủy đã hỗ trợ cán bộ, công chức các cơ quan khối Đảng tỉnh 342,5 triệu đồng; gặp mặt, tặng quà cho 169 cán bộ hưu trí; tổ chức gặp mặt và trao tặng quà cho các đại biểu đại diện các tầng lớp nhân dân, nhân sỹ trí thức, chức sắc các tôn giáo, kiều bào, thân nhân kiều bào trên địa bàn tỉnh với 67 suất quà, tổng giá trị 33,5 triệu đồng.

Sở Lao động – Thương binh và xã hội đã tiếp nhận 300 triệu đồng của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam để hỗ trợ cho 05 huyện có vùng khí hậu lạnh. UBND huyện Đăk Glei và Tu Mơ Rông đã chủ động xuất ngân sách của huyện thực hiện hỗ trợ chăn đắp, áo ấm cứu rét cho 1.933 hộ với kinh phí 1.080,3 triệu đồng.

Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh hỗ trợ 1.043 đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội trong và ngoài công lập trên địa bàn tỉnh trị giá 48 triệu đồng. Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh đã mua hỗ trợ quần áo, dép mới, quà và tổ chức các hoạt động đón Tết cho các em trong Trung tâm với trị giá 122 triệu đồng.

Các huyện, thành phố cân đối ngân sách và chủ động vận động xã hội hóa hỗ trợ 163,71 tấn gạo cho 3.359 hộ với 10.914 khẩu; trích kinh phí địa phương cùng với tiếp nhận hỗ trợ từ các tổ chức cá nhân, tổ chức thăm và tặng quà cho 157 đối tượng yếu thế trong xã hội với số tiền là 304,1 triệu đồng.

Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh đã tiếp nhận, trao tặng 22.849 suất quà của 05 tổ chức, cơ quan, đơn vị doanh nghiệp cho 22.849 người nghèo với tổng kinh phí 13.123,9 triệu đồng.

Đã triển khai thực hiện Chương trình “Ngày hội bánh chưng xanh” tại 639 điểm vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh với 78.483 hộ tham gia và tổng kinh phí thực hiện là 5.671 triệu đồng.

Tổ chức tập huấn công tác xã hội tham vấn cá nhân cho 50 nhân viên các Cơ sở trợ giúp xã hội trong và ngoài công lập trên địa bàn tỉnh.

Phối hợp với Hội bảo vệ quyền trẻ em và bảo trợ người khuyết tật (BTNKT) tỉnh tổ chức các hoạt động điển hình: gặp mặt biểu dương NKT, tổ chức Hội thi sơ tuyển tiếng hát người khuyết tật nhân dịp ngày 18/4, tổ chức các hoạt động truyền thông về NKT tại cộng đồng; Đưa đoàn người khuyết tật của tỉnh Kon Tum tham dự Hội thi tiếng hát người khuyết tật lần thứ II năm 2019 tại TP Nha Trang và báo cáo kết quả tham dự Hội thi gửi UBND tỉnh.

- Thực hiện chính sách với người có công

Nhân dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019, UBND tỉnh đã tổ chức thăm và tặng 11.092 suất quà trị giá 2.903,8 triệu đồng (trong đó có 5.501 suất quà từ nguồn ngân sách Trung ương) cho các đối tượng là người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh.

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã phối hợp với Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn thăm, chúc tết 04 Mẹ Việt Nam anh hùng và tặng 100 suất quà trị giá 500.000 đồng/suất cho một số hộ gia đình chính sách.

Đưa 150 người có công đi điều dưỡng tập trung ngoài tỉnh tại Phú Yên và Bình Định; đưa 36 người có công tiêu biểu tham quan thủ đô Hà Nội và viếng lăng Bác.

Cắt giảm đối tượng từ trần: 25 người; Giải quyết tăng: 07 hồ sơ (hồ sơ mới, thân nhân hưởng Tuất); Trợ cấp một lần và Mai táng phí: 21 người.

b) Giáo dục

Chất lượng giáo dục tiếp tục được nâng lên, quy mô trường lớp được nâng cấp mở rộng; Công tác xóa phòng học tạm được chú trọng; Chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số có sự chuyển biến tích cực; Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia tiếp tục được quan tâm. Một số kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm đó là:  

Đoàn học sinh tỉnh Kon Tum tham dự Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học khu vực phía Nam, năm học 2018 - 2019, diễn ra từ ngày 16-19/3, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tham gia cuộc thi với 5 dự án khoa học kỹ thuật thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội; hệ thống nhúng, robot và máy thông minh, phần mềm hệ thống. Kết quả, 5 dự án của Đoàn học sinh tỉnh Kon Tum đều đạt giải cao, trong đó đồng đạt giải Nhất có 2 dự án: “Cánh tay robot cộng tác” của học sinh Trường THPT Kon Tum  và dự án “Truyện cổ người Bahnar với trẻ em người Bahnar ở Kon Tum” của nhóm tác giả học sinh Trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành; 03 dự án còn lại cùng đạt 3 giải Ba là: “Trình duyệt web kỹ thuật Browser”; “Thiết bị phân tích dữ liệu từ camera dựa vào thị giác máy tính và trí tuệ nhân tạo” và “Thiết bị học hành động và phân loại vật thể dựa vào màu sắc robot và máy thông minh” đều là sản phẩm của các học sinh thuộc Trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành. Cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học, được Bộ GD-ĐT tổ chức hàng năm nhằm khuyến khích các em học sinh trung học nghiên cứu khoa học, sáng tạo kỹ thuật và công nghệ để giải quyết các vấn đề thực tiễn.

Sáng 11/6, tại Hội đồng Tuyển sinh Trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành và Trường THPT Kon Tum (thành phố Kon Tum) đã diễn ra kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 (đợt I) năm học 2019-2020. Tổng số thí sinh đăng ký thi đầu vào lớp 10 năm học 2019-2020 là 1.296 thí sinh, so với kỳ thi này năm học trước giảm 169 thí sinh. Tổng chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 đợt này là 800 học sinh; trong đó, THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành 280 chỉ tiêu; THPT Kon Tum 520 chỉ tiêu.

Sáng 13/6, Tỉnh đoàn phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức tổng kết và trao giải Hội thi Tin học trẻ tỉnh Kon Tum lần thứ XX năm 2019. Hội thi thu hút sự tham gia của 137 thí sinh là các em học sinh tại các trường Tiểu học, THCS, THPT trên địa bàn tỉnh. Tham gia Hội thi, học sinh khối Tiểu học thi trắc nghiệm kiến thức cơ bản về công nghệ thông tin, tư duy suy luận logic và thực hành sử dụng ngôn ngữ Scratch; học sinh khối THCS thi giải toán bằng ngôn ngữ lập trình Pascal; học sinh THPT thực hành giải toán sử dụng thư viện ngôn ngữ Pascal, CodeBlocks. Tổng kết hội thi, Ban tổ chức trao 24 giải, gồm 3 giải Nhất, 4 giải Nhì, 6 giải Ba và 11 giải Khuyến khích cho các thí sinh đạt thành tích xuất sắc. Ban tổ chức chọn 3 em đạt giải cao nhất của 3 khối để tiếp tục bồi dưỡng, ôn tập tham dự Hội thi Tin học trẻ toàn quốc lần thứ XXV năm 2019, dự kiến tổ chức từ ngày 16 - 18/7/2019 tại thành phố Đồng Hới (tỉnh Quảng Bình).

c) Y tế

- Tình hình dịch bệnh

Sốt xuất huyết Dengue: Trong tháng, ghi nhận 45 ca mắc mới, không có trường hợp tử vong, tăng 21 ca so với tháng trước và tăng 37 ca so với tháng 5/2018. Lũy tích đến 31/5/2019, ghi nhận 129 ca mắc, không có tử vong, tăng 93 ca so với cùng kỳ năm trước.

Tay - chân - miệng: Trong tháng, ghi nhận 05 ca mắc mới, không có trường hợp tử vong, giảm 01 ca so với tháng trước và giảm 01 ca so với tháng 5/2018. Lũy tích đến 31/5/2019, ghi nhận 76 ca mắc, không có tử vong, tăng 52 ca so với cùng kỳ năm trước.

Thủy đậu: Trong tháng, ghi nhận 52 ca mắc mới, không có trường hợp tử vong, giảm 44 ca so với tháng trước và giảm 14 ca so với tháng 5/2018. Lũy tích đến 31/5/2019, ghi nhận 330 ca mắc, không có tử vong, tăng 48 ca so với cùng kỳ năm trước.

Sởi: Trong tháng, ghi nhận 07 ca mắc mới không có trường hợp tử vong, tăng 02 ca so với tháng trước và tăng 07 ca so với tháng 5/2018. Lũy tích đến 31/5/2019, ghi nhận 31 ca mắc, không có tử vong, tăng 31 ca so với cùng kỳ năm trước.

Quai bị: Trong tháng, ghi nhận 28 ca mắc mới, không có trường hợp tử vong, tăng 06 ca so với tháng trước và giảm 12 ca so với tháng 5/2018. Lũy tích đến 31/5/2019, ghi nhận 230 ca mắc, không có tử vong, tăng 51 ca so với cùng kỳ năm trước.

Sốt rét: Trong tháng, ghi nhận 08 ca mắc mới không có sốt rét ác tính và không có tử vong, tăng 01 ca so với tháng trước và giảm 07 ca so với tháng 5/2018. Lũy tích đến 31/5/2019, ghi nhận 43 ca mắc, không có tử vong, giảm 29 ca so với cùng kỳ năm trước.

Lao: Tổng số bệnh nhân lao điều trị 39 bệnh nhân. Trong đó, Lao phổi AFB (+) 29 bệnh nhân.

Viêm gan vi rút A: Trong tháng, ghi nhận 04 ca mắc mới, không có tử vong, tăng 04 ca so với tháng trước và bằng so với tháng 5/2018. Lũy  tích đến 31/5/2019, ghi nhận 06 ca mắc, không có tử vong, giảm 09 ca so với cùng kỳ năm trước.

- Phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, không ghi nhận trường hợp nhiễm HIV mới, có 02 bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS và 02 tử vong. Lũy tích nhiễm HIV/AIDS đến 31/5/2019: 488 người, trong đó số người tử vong do AIDS 82, số nhiễm HIV/AIDS còn sống 306 người (đang quản lý được 146 người). Tổng số bệnh nhân điều trị thuốc ARV 109 người (trẻ em 06).

- An toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm, ghi nhận 24 ca ngộ độc thực phẩm do ăn uống không không đảm bảo vệ sinh.

d) Hoạt động văn hóa thể thao

Trọng tâm của các hoạt động văn hóa thể thao 6 tháng đầu năm 2019 là các hoạt động mừng Đảng, mừng xuân và các ngày lễ lớn của đất nước, cụ thể như:

Tối ngày 04/02/2019 (đêm 30 tết Âm lịch), tại Quảng trường 16/3 đã tổ chức Chương trình biểu diễn nghệ thuật và chương trình bắn pháo hoa đón giao thừa mừng Xuân Kỷ Hợi 2019.

Sáng mùng 4 Tết (tức ngày 08/02/2019), trên sông Đăk Bla (đoạn cầu Đăk Bla, thành phố Kon Tum), Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh tổ chức giải đua thuyền độc mộc đầu xuân.

Trong 3 ngày, từ tối 18/3/2019 đến hết ngày 20/3/2019  tuần Văn hóa- Du lịch huyện Kon Plông lần thứ VI năm 2019 được tổ chức tại Khu du lịch sinh thái Quốc gia Măng Đen.

Chiều ngày 09/4/2019, tại Sân vận động tỉnh, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức khai mạc Giải bóng đá 7 người thanh niên DTTS tỉnh năm 2019.

Sáng 11/6/2019, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp với Sở Lao động Thương binh và Xã hội tổ chức khai mạc Giải bóng đá trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn lần thứ XIX-2019.

e) An ninh trật tự - An toàn giao thông (ANTT-ATGT)

- Tình hình  ANTT – ATGT tháng 5/2019

Vi phạm pháp luật về trật tự xã hội: Phát hiện 33 vụ (giảm 28 vụ so với tháng trước), thiệt hại: chết 08 người, bị thương 13 người, mất 02 mô tô, hơn 2.890 triệu đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá 86,5 triệu đồng.

Tội phạm về ma túy: phát hiện 04 vụ, trong đó: tàng trữ trái phép chất ma túy 03 vụ, vận chuyển trái phép chất ma túy 01 vụ. Thu giữ 15,692gr hêrôin, hơn 2,004 kg Methamphetamine.

Tội phạm kinh tế: Phát hiện 03 vụ, trong đó: vận chuyển hàng cấm 01 vụ, cất dấu lâm sản trái phép 01 vụ, cho vay nặng lãi trong giao dịch nhân sự 01 vụ. Thu giữ 213,5 kg pháo, 15,28 m3 gỗ các loại.

Tai nạn giao thông: xảy ra 04 vụ (giảm 01 vụ so với tháng trước). Hậu quả: chết 04 người bị thương 01 người, hư hỏng 03 xe ô tô, 06 mô tô.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 2.000 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ; tạm giữ 429 phương tiện, 1.143 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 2.279 trường hợp.

- Tình hình ANTT – ATGT 5 tháng đầu năm 2019

Vi phạm pháp luật về trật tự xã hội: Phát hiện 249 vụ, thiệt hại: chết 23 người, bị thương 74 người, mất 19 mô tô, 03 ĐTDĐ, 01 laptop, 3.094 triệu đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá 346,5 triệu đồng.

Tội phạm về ma túy: phát hiện 25 vụ, thu giữ 25 gói bột màu trắng (nghi Hêroin), 2.030,60526gr Methamphetamine, 0,5005gr Ketamine, 0,9853gr MDMA, 94,607gr ma túy đá, 02 gói tinh thể màu trắng nghi ma túy đá, 52,365 gr hêrôin, 5,6703 gr ma túy tổng hợp

Tội phạm kinh tế: Phát hiện 55 vụ, trong đó: Vận chuyển hàng cấm 16 vụ, vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản 11 vụ, cho vay nặng lãi  trong giao dịch nhân sự 03 vụ, làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức 02 vụ, vận chuyển lâm sản trái phép 05 vụ, vi phạm các quy định về an toàn thực phẩm 01 vụ, cất dấu lâm sản trái phép 03 vụ, tàng trữ vận chuyển hàng cấm 04 vụ, buôn bán, tàng trữ hàng cấm 01 vụ, vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm 01 vụ, vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên 03 vụ, vi phạm quy định về an toàn thực phẩm 02 vụ, sử dụng pháo trái phép 03 vụ.

Tai nạn giao thông: xảy ra 25 vụ. Hậu quả: chết 26 người, bị thương 13 người, hư hỏng 14 xe ô tô, 31 mô tô, 02 phương tiện khác.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 9.638 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ; tạm giữ 2.443 phương tiện, 5.662 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 7.008 trường hợp.

f) Tình hình cháy, nổ

Trong tháng 5/2019: Xảy ra 02 vụ cháy, trong đó: cháy nhà dân 01 vụ, cháy xe máy múc 01 vụ, thiệt hại ước tính khoảng 30 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 09 vụ cháy, ước thiệt hại khoảng 628 triệu đồng.

g) Vi phạm môi trường

Kết quả xử lý từ đầu năm đến nay, tại địa bàn tỉnh qua kiểm tra, kiểm soát đã phát hiện 09 vụ việc khai thác cát, sỏi trái pháp luật. Trong đó Tổ Công tác 501 (Sở Tài nguyên và Môi trường) phát hiện 4 vụ; Phòng cảnh sát môi trường phát hiện 3 vụ; địa phương phát hiện 2 vụ. Đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền 64 triệu đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính số tiền 7,1 triệu đồng. Ngoài ra, hoạt động khai thác đất sét trái phép tại Cụm CN-TTCN Thanh Trung, phường Ngô Mây, thành phố Kon Tum,  UBND thành phố đã xử lý trách nhiệm tập thể và cá nhân có liên quan.

 


[1] Căn cứ Quyết định số 715/QĐ-TTg ngày 22 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Ngày  30 tháng 5 năm 2019 Tổng cục Thống kê đã công bố số liệu GRDP ước 6 tháng đầu năm 2019 trên địa bàn tỉnh Kon Tum (tại văn bản số  601/TCTK-TKQG gửi UBND tỉnh Kon Tum).

Xem và tải về:   Tải về

Cục Thống kê 

TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC