• Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử của Cục Thống kê tỉnh Kon Tum.
  • Địa chỉ: 415 URE - Phường Trường Chinh - Thành phố Kon Tum - Tỉnh Kon Tum.
Thứ Năm, 22/08/2019 20:55
Thông tin kinh tế xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum tháng 3 và quý I năm 2019
Cập nhật: Thứ Hai, 01/04/2019 06:58

 

Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2019 trên địa bàn tỉnh nhìn chung phát triển ổn định. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản được đảm bảo theo đúng lịch thời vụ; sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng; hoạt động thương mại phát triển ổn định; công tác an sinh xã hội được bảo đảm; trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Tình hình cụ thể ở các ngành, lĩnh vực như sau:

1. Tăng trưởng kinh tế

- Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 2 tháng đầu năm đạt 465.971 triệu đồng, đạt 18,9% dự toán và bằng 105,3% so với cùng kỳ.

- Chi ngân sách địa phương 2 tháng đầu năm đạt 1.181.223 triệu đồng, đạt 17,0% kế hoạch và bằng 103,4% so với cùng kỳ.

- Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp quý I năm 2019 tăng 11,77% so cùng kỳ năm trước.

- Ước tính vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Kon Tum quý I năm 2019 là 2.745.471 triệu đồng, tăng 17,56% so với cùng kỳ năm trước. 

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh quý I năm 2019 ước tính đạt 4.174.270 triệu đồng, tăng 9,50% so với cùng kỳ năm trước.

- Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính quý I năm 2019 đạt  437.741,67 triệu đồng, tăng 11,82% so với cùng kỳ năm trước.

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân quý I năm 2019 tăng 1,49% so với cùng kỳ năm trước.

2. Tài chính, ngân hàng

a) Thu chi ngân sách

Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 2 tháng đầu năm đạt 465.971 triệu đồng, đạt 18,9% dự toán và bằng 105,3% so với cùng kỳ; thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước quản lý: 89.469 triệu đồng, đạt 12,7% kế hoạch và bằng 53,3% so với cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh 118.626 triệu đồng, đạt 20,6% kế hoạch và tăng 6,3% so với cùng kỳ.

Chi ngân sách địa phương 2 tháng đầu năm đạt 1.181.223 triệu đồng, đạt 17,0% kế hoạch và bằng 103,4% so với cùng kỳ, trong đó chi đầu tư phát triển 520.120 triệu đồng, đạt 25,5% kế hoạch; chi thường xuyên 654.040 triệu đồng, đạt 13,6% kế hoạch.

b) Hoạt động ngân hàng ước quý I năm 2019

Ước tính tổng vốn huy động đạt 14.800 tỷ đồng, tăng 1,31% (191 tỷ đồng) so với đầu năm và tăng 2,71% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó tiền gửi kỳ hạn trên 12 tháng là 5.800 tỷ đồng (chiếm 39% nguồn vốn huy động).

Tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn ước đạt 28.800 tỷ đồng, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước.

3. Giá cả, lạm phát

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 năm 2019 giảm 0,55% so với tháng trước; tăng 1,48% so với cùng kỳ năm trước; tăng 0,28% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân quý I năm 2019 tăng 1,49% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, so với tháng trước có 04 nhóm tăng: nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,73%; nhóm Giao thông tăng 2,0%; nhóm Giáo dục tăng 0,02%; nhóm Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,66%; Có 06 nhóm giảm là nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 2,12%; nhóm Đồ uống và thuốc lá giảm 0,32%; nhóm May mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,1%; nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,42%; nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,18%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,11%; Có 01 nhóm ổn định: nhóm thuốc và dịch vụ y tế.

Giá vàng biến động theo giá vàng thế giới và trong nước với xu hướng giảm so với tháng trước, giá vàng 9999 trên địa bàn tỉnh tháng 3/2019 được bán với giá bình quân khoảng 3.471.000 đồng/chỉ, giảm 0,49% so với tháng trước; tỷ giá USD/VND bình quân giao dịch ở mức 23.056,5 đồng/USD, tăng 0,05%.

4. Đầu tư và xây dựng

a) Vốn đầu tư

- Ước tính vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Kon Tum quý I năm 2019 là 2.745.471 triệu đồng, tăng 17,56% so với cùng kỳ năm trước. 

+ Phân theo nguồn vốn

Vốn nhà nước trên địa bàn thực hiện là 524.525 triệu đồng, tăng 4,69% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 19,11% trong tổng số nguồn vốn, trong đó:

Vốn ngân sách nhà nước do trung ương quản lý là 177.488 triệu đồng, tăng 18,41% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 33,84%; nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý là 347.037 triệu đồng bằng 98,83% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 66,16%, chủ yếu đầu tư phát triển các chương trình mục tiêu, xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thủy lợi, giao thông, giáo dục, y tế, ...

Nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc khu vực ngoài nhà nước là 2.215.946 triệu đồng, tăng 20,90% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 80,71% trong tổng nguồn vốn, trong đó: Vốn đầu tư của doanh nghiệp đạt 1.165.191 triệu đồng, tăng 18,27% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư của các hộ gia đình đạt 1.050.755 triệu đồng, tăng 23,96% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu đầu tư của khu vực hộ dân cư trong xây dựng, sửa chữa nhà, chăn nuôi, ...

  Nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 5.000 triệu đồng, chiếm 0,18% trong tổng nguồn vốn, chủ yếu thực hiện các khoản mục đầu tư mua sắm máy móc thiết bị không qua XDCB, bổ sung vốn lưu động và sửa chữa nâng cấp tài sản cố định của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

+ Phân theo khoản mục đầu tư

Vốn đầu tư XDCB: 2.104.668 triệu đồng, chiếm 76,66% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư mua sắm TSCĐ dùng cho sản xuất không qua XDCB:  270.490 triệu đồng, chiếm 9,85% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ: 151.578 triệu đồng, chiếm 5,52% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động: 200.632 triệu đồng, chiếm 7,31% trong tổng nguồn vốn.

Vốn đầu tư khác: 18.103 triệu đồng, chiếm 0,66% trong tổng nguồn vốn.

- Tình hình thực hiện vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum quý I năm 2019 là 262.067 triệu đồng, bằng 96,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý, Chia ra:

+ Vốn Ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước là 179.229 triệu đồng, bằng 91,26% so với cùng kỳ và chiếm 68,39% trong tổng số nguồn vốn, chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thuỷ lợi, giao thông, giáo dục, y tế, cấp nước sinh hoạt nông thôn, môi trường nông thôn, đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, các thôn đặc biệt khó khăn... Trong đó: Vốn cân đối Ngân sách tỉnh là 121.634 triệu đồng, chiếm 67,87%; Vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu là 34.162 triệu đồng, chiếm 19,06%; Vốn ODA là 5.645 triệu đồng, chiếm 3,15%; Vốn Xổ số kiến thiết là 16.637 triệu đồng, chiếm 9,28%; Vốn khác là 1.151 triệu đồng, chiếm 0,64% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh.

+ Vốn Ngân sách Nhà nước cấp huyện là 82.608 triệu đồng, tăng 9,55% so với cùng kỳ và chiếm 31,52% trong tổng số nguồn vốn, chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn như đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa… trên địa bàn các huyện, thành phố thuộc tỉnh. Trong đó: Vốn cân đối Ngân sách huyện là 31.018 triệu đồng, chiếm 37,55%; Vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu là 47.728 triệu đồng, chiếm 57,78%; Vốn khác là 3.862 triệu đồng, chiếm 4,68% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện.

Trong quý I năm 2019 nguồn vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý và vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Kon Tum chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, cải tạo nâng cấp các tuyến đường giao thông, kiên cố hóa các kênh mương, công trình cấp nước sinh hoạt; công trình giáo dục; y tế… trên địa bàn các huyện, thành phố như: Đường và cầu từ tỉnh lộ 671 đi Quốc lộ 14; Hồ chứa nước Đăk Pơ Kei; Đường vào hồ Toong Đam-Toong Zơ Ri huyện Kon Plông; Nhà đa năng huyện Đăk Glei; ...

b) Xây dựng

Trong quý I năm 2019 hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh diễn ra đồng bộ trên các khu vực kinh tế, tập trung ở khu vực hộ dân cư, chủ yếu xây dựng nhà ở mới với mức đầu tư cao và sửa chữa các công trình khác. Trong quý các đơn vị hoạt động xây lắp triển khai thi công các công trình trọng điểm có vốn đầu tư cao chuyển tiếp trong năm 2018 như:

Công trình kỹ thuật dân dụng: đường bao quanh khu dân cư phía bắc và khu dân cư phía nam thành phố Kon Tum, xây dựng cầu và đường 2 đầu cầu Đăk Bla mới thuộc dự án tuyến tránh thành phố Kon Tum, cầu qua sông Đăk Bla số 01, 03, đường và cầu từ tỉnh lộ 671 đi Quốc lộ 14, đường giao thông phát triển KTXH và đảm bảo quốc phòng an ninh từ xã Rờ Kơi - Sa Thầy đi xã Saloong- Ngọc Hồi (GĐ1), đường giao thông liên xã Sa Bình - Ya Ly huyện Sa Thầy, đường giao thông tuyến N5-4 thuộc Cụm CN - TTCN làng nghề Hnor, phường Lê Lợi thành phố Kon Tum, đường giao thông từ xã Đăk Tờ Re đi làng Kon Long Buk, Kon Xum Luh, Kon Đơ Xing huyện Kon Rẫy, đường liên xã Tân Cảnh - Ngọc Tụ - Đăk Rơ Nga huyện Đăk Tô, đường giao thông liên thôn Đăk Văn 2 - Đăk Văn 3 - Đăk Linh xã Văn Xuôi, huyện Tu Mơ Rông, nâng cấp đường du lịch số 1 xuống hồ Đăk Ke, đường vào hồ Toong Đam - Toong Zơ Ri xã Đăk Long, huyện KonPlông...

Công trình thủy lợi: Cụm công trình thủy lợi Ia H’Drai, công trình thủy lợi Đắk Long 1 huyện Ngọc Hồi, sửa chữa, nâng cấp Đập Bà Tri và sửa chữa, nâng cấp hệ thống thủy lợi Đăk Đam huyện Đăk Hà, xây dựng kênh chính (kênh cấp1) Đăk Rơn Ga, huyện Đăk Tô, sửa chữa nâng cấp thủy lợi ĐăkBlo, huyện Đăk Tô, sửa chữa, nâng cấp hồ chứa nước Đắk Pô Kei, thủy lợi Đăk Ne, Đăk Liêng, huyện KonPlong, kè chống sạt lở bờ sông Pô Kô đoạn qua thị trấn Đăk Glei, huyện Đăk Glei,  sửa chữa, nâng cấp hệ thống thủy lợi Kon Trang Kla, Đăk Trít và  hạ tầng khu vực xã Đăk La huyện Đăk Hà, sửa chữa, nâng cấp hệ thống thủy lợi Đăk Kít và hạ tầng nông thôn phục vụ sản xuất xã Đăk Môn huyện Đăk Glei, thủy lợi Đăk Liêng, huyện KonPlong, sửa chữa, nâng cấp hệ thống thủy lợi Lũng Lau khu vực xã Sa Sơn huyện Sa Thầy... Thi công một số tuyến đường giao thông từ trung tâm các huyện đi các xã, thi công các đường giao thông nông thôn...

Xây dựng công trình nhà không để ở: Trụ sở làm việc huyện ủy, HĐND-UBND, mặt trận đoàn thể và các công trình phụ trợ  huyện Ia H’Drai, trụ sở làm việc Đảng ủy, HĐND-UBND xã Văn Lem, huyện Tu Mơ Rông, trụ sở làm việc Đảng ủy, HĐND-UBND xã Ngọc Tụ, huyện Đăk Tô, hội trường Đảng ủy - HĐND phường Trường Chinh thành phố Kon Tum...

Công trình văn hoá: Nhà đa năng huyện Đăk Glei, sân vận động huyện Đăk Hà, nhà văn hoá xã Tân Lập huyện Kon Rẫy, trung tâm văn hóa huyện Kon Rẫy, trung tâm văn hóa thể thao huyện Sa Thầy...  

Các loại hình kinh tế khác (hộ dân cư, xã/phường/ thị trấn) trong quý I năm 2019 hoạt động xây dựng chủ yếu do hộ dân cư đầu tư xây dựng nhà ở mới, sửa chữa nhà ở và các công trình liên quan (sân, tường rào, nhà kho, các công trình khác…). Các đơn vị xã, phường, thị trấn cùng nhân dân thực hiện thi công các công trình nhà văn hóa, nhà rông, hội trường, trường học mẫu giáo, nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết …

5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Trong tháng 3/2019, đã cấp giấy chứng nhận đăng ký cho 25 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký khoảng 295,7 tỷ đồng; lũy kế trong Quý I/2019, đã cấp giấy chứng nhận đăng ký cho 57 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký trên 547 tỷ đồng. Số DN hoạt động trở lại trong Quý I/2019 là 42 doanh nghiệp. Nhìn chung trong những tháng đầu năm các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hoạt động tương đối ổn định và  tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh.

6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

- Trồng trọt

+ Cây hàng năm: Vụ đông xuân 2018 - 2019, ước tính quý I năm 2019, tổng diện tích gieo trồng (DTGT) cây hàng năm trên địa bàn tỉnh Kon Tum là: 10.892 ha, giảm 0,90% (-99 ha) so với cùng kỳ vụ đông xuân 2017 - 2018, cụ thể DTGT một số cây trồng như sau:

Cây lúa: 7.332 ha, tăng 3,23% (+230 ha), DTGT cây lúa tăng do thời tiết tương đối thuận lợi nên bà con nông dân đồng loạt làm đất, cày ải và gieo sạ. Bên cạnh đó do mùa mưa 2018 kết thúc sớm, lượng mưa vừa, nên bà con nông dân đã tận dụng những diện tích vùng bán ngập để gieo cấy các giống lúa ngắn ngày nhằm tăng thu nhập.

Cây ngô: 975 ha, giảm 4,13% (-42 ha).

Cây mía: 1.283 ha, giảm 17,65% (-275 ha), diện tích cây mía giảm là do những năm gần đây giá bán các sản phẩm như lúa, sắn, ...đều tăng nhẹ trong khi giá thu mua nguyên liệu mía của Công ty Cổ phần Đường Kon Tum niên vụ 2018 - 2019 là 830.000 đồng/tấn, giảm khoảng 120.000 đồng/tấn so với các niên vụ trước. Trong khi đó giá các chi phí đầu vào ban đầu như  phân, cày đất, công... tăng cao nên các hộ chuyển đổi hoặc giảm một phần diện tích sang trồng cây trồng khác đầu tư ít, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Đây là nguyên nhân chính tác động trực tiếp đến diện tích cây mía giảm.

Cây lạc: 23 ha, giảm 11,54% (-3 ha) so cùng kỳ vụ đông xuân 2017 - 2018.

Đậu các loại: 83 ha, giảm 15,31% (-15 ha) so cùng kỳ vụ đông xuân 2017 - 2018.

Diện tích cây lạc, cây đậu giảm do những năm trước nông dân tận dụng diện tích đất cây cao su, cây điều đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản để trồng xen. Năm nay, một phần diện tích cây cao su, cây điều đã khép tán trưởng thành nên diện tích cây lạc giảm so với năm trước.

Rau các loại: 1.082 ha, tăng 0,20% (+2 ha) so cùng kỳ vụ đông xuân 2017 - 2018.

Nhìn chung, vụ đông xuân 2018 - 2019 thời tiết tương đối thuận lợi, cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, ít xuất hiện sâu bệnh, mật độ các bệnh sinh lý tỷ lệ thấp, mức độ gây hại nhẹ không ảnh hưởng đến cây trồng.

+ Cây lâu năm

Kon Tum là tỉnh có diện tích cây ăn quả không lớn, chiếm tỷ trọng thấp trong nhóm cây lâu năm. Khí hậu, thổ nhưỡng ở đây không phù hợp để phát triển các loại cây ăn  quả với quy mô lớn. Diện tích chủ yếu được trồng với quy mô nhỏ và rải rác ở các khu vườn hộ dân, sản lượng thu hoạch chủ yếu dùng để phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày.

Trên địa bàn tỉnh Kon Tum, chủ yếu chỉ  tập trung phát triển các loại cây trọng điểm  là cà phê và cao su. Hiện tại cây cà phê trong giai đoạn nở hoa, cho quả. Sản lượng cao su ước đến 31/3/2019 đạt 3.890 tấn.

- Chăn nuôi

Từ ngày 15/02/2019 - 15/3/2019: dịch bệnh Lở mồm long móng phát sinh tại 57 hộ chăn nuôi ở 17 xã, phường thị trấn của 06 huyện, thành phố với 1.057 con lợn mắc bệnh; đã tiêu hủy là 962 con lợn.

Trong quý I năm 2019 trên địa bàn tỉnh xuất hiện bệnh dịch Lở mồm long móng tại 119 hộ chăn nuôi ở 30 xã, phường thị trấn của 06 huyện, thành phố, có 3.626 con gia súc mắc bệnh (3.613 con heo và 13 con bò), số gia súc mắc bệnh phải tiêu hủy là 3.518 con heo, đã điều trị khỏi các triệu chứng lâm sàng của bệnh LMLM cho 13 con bò. Có 15 xã, phường, thị trấn của 03 huyện, thành phố  đã qua 21 ngày không phát sinh thêm gia súc mắc bệnh mới, kể từ ngày tiêu hủy con gia súc mắc bệnh cuối cùng.

Trong quý I năm 2019 bệnh Cúm gia cầm A/H5N6 toàn tỉnh có 1.200 con gia cầm (400 gà, 800 vịt) mắc bệnh và đã tiêu hủy toàn bộ số gia cầm tại 03 hộ chăn nuôi (02 hộ tại thôn Ngọc Hải, xã Bờ Y; 01 hộ tại thôn 4, xã Đăk Kan) huyện Ngọc Hồi. Các dịch bệnh thông thường trên đàn gia súc, gia cầm được lực lượng thú y phát hiện và xử lý kịp thời.

b) Lâm nghiệp

Thực hiện Chỉ thị số 09/CT-UBND, ngày 11/12/2018 của UBND tỉnh về việc tăng cường các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng và quản lý, bảo vệ rừng mùa khô 2018 - 2019 trên địa bàn tỉnh, các ngành chức năng đã có kế hoạch chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tăng cường công tác phòng cháy chữa cháy rừng trong các tháng cao điểm mùa khô. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cho người dân địa phương về phòng cháy chữa cháy rừng được tăng cường. Tính đến 15/3/2019, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng.

Tính đến ngày 15/3/2019, trên địa bàn tỉnh xảy ra 15 vụ phá rừng trái pháp luật với diện tích thiệt hại là 3,352 ha, tăng 4 vụ (+0,2 ha) so với cùng kỳ năm trước. Các cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.

Dự tính đến thời điểm 31/3/2019, công tác trồng rừng tập trung trên địa bàn tỉnh chưa tiến hành, vì đang là thời điểm mùa khô ở Tây nguyên.

Công tác khai thác lâm sản: Ước tính đến ngày 31/3/2019, trên địa bàn tỉnh khai thác gỗ là 28.500 m3, tăng 3,3% (+900 m3) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng củi khai thác là 64.500 ste, tăng 1,3% (+800 ste) so với cùng kỳ năm trước.

c) Thuỷ sản

Ước tính đến 31/3/2019, diện tích nuôi trồng thủy sản là 693 ha, tăng 6,6% (+43 ha), so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thuỷ sản là 1.029 tấn, tăng 9,5% (+89 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

Sản lượng nuôi trồng nước ngọt là 597 tấn, tăng 9,5% (+52 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng khai thác nước ngọt là 432 tấn, tăng 9,4% (+37 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

7. Sản xuất công nghiệp

a) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

- Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 3 năm 2019

Sau dịp Tết Nguyên đán, các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh đã trở lại bình thường. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 3 năm 2019 ước tính tăng 13,65% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 23,86%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,82%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng  18,42%; ngành Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,89% so với cùng kỳ năm trước.

So với tháng trước chỉ số sản xuất toàn ngành  công nghiệp tháng 3/2019 ước tính tăng 17,66%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,78%; ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 38,59%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,49%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,37%.

Nguyên nhân chỉ số tăng là do tháng 2 là tháng có tết Nguyên đán Kỷ Hợi[1] do đó số ngày hoạt động sản xuất trong tháng 3/2019  của các doanh nghiệp, cơ sở  nhiều hơn so với tháng trước dẫn đến sản phẩm sản xuất trong tháng tăng làm cho chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3/2019 tăng so với tháng trước.

- Tình hình hoạt động  sản xuất công nghiệp quý I  năm 2019

Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp quý I năm 2019 tăng 11,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 4,23%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,82%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng  11,66%; ngành Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,45% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính một số sản phẩm sản xuất quý I năm 2019 so với cùng kỳ năm trước như sau: Đá xây dựng khai thác 111.323 m3, giảm 5,05%; Tinh bột sắn sản xuất 96.955 tấn, tăng 6,29%; Đường RE 9.297 tấn, tăng 24,79%; Gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn đạt 50,06 triệu viên, tăng 21,79%; điện sản xuất  273,2 triệu Kwh, tăng 12,46%.

b) Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 3/2019 tăng 9,81% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành chiếm tỷ trọng lớn có chỉ số tiêu thụ tăng như  nhóm ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 9,08%; sản xuất sản phẩm từ cao su và Plastic tăng 250%... Nguyên nhân chủ yếu là ngành sản xuất tinh bột sắn, bột dong riềng do các nhà máy sản xuất tinh bột sắn đã  đi vào sản xuất ổn định  nên sản lượng tinh bột sắn sản xuất được tiêu thụ ổn định; các ngành  sản xuất thuộc các ngành như sản xuất trang phục,  sản xuất sản phẩm từ  khoáng phi kim loại…có thị trường tiêu thụ ổn định  tình hình tiêu thụ sản phẩm trong tháng tương đối thuận lợi và chỉ số tiêu thụ tăng tương ứng theo sản lượng sản xuất ra. Bên cạnh đó, nhiều ngành có dự báo tiêu thụ giảm trong tháng 3: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện giảm 21,52%.

c) Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính đến thời điểm 31/3/2019 giảm 6,01% so cùng thời điểm năm trước; đa số các ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng thời điểm năm trước, riêng chỉ số tồn kho ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất  tăng 313,64%, nguyên nhân do sản lượng sản xuất  tăng, lượng tiêu thụ chậm nên lượng sản phẩm nhập kho cao.

d) Xu hướng sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp chế biến chế tạo quý I năm 2019

Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế  biến, chế tạo  quý I năm 2019  nhìn chung có xu hướng tốt hơn so với quý trước; trong đó số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất tốt hơn chiếm 37,93%, số doanh nghiệp đánh giá tình hình sẽ giữ nguyên chiếm cùng tỷ lệ 44,83%, số doanh nghiệp đánh giá tình hình có khó khăn hơn chỉ chiếm 17,24%. Trong quý tiếp theo, phần lớn các doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất sẽ được tăng lên, cụ thể tỷ lệ các doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất tăng lên 58,62%, tỷ lệ đánh giá tình hình sản xuất giữ nguyên chiếm 27,59%, số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất giảm đi chỉ chiếm tỷ lệ 13,79%, các doanh nghiệp này chủ yếu ở các ngành là sản xuất chế biến thực phẩm.

Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất ngành công nghiệp của các đơn vị, cơ sở trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong tháng 3 và quý I năm 2019 tương đối ổn định, một số nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì hoạt động ổn định và phát triển, có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước,  các nhà máy sản xuất tinh bột sắn do nguồn nguyên liệu đảm bảo đã hoạt động tương đối ổn định. Riêng  Công ty Cổ phần Đường Kon Tum sản xuất đi vào ổn định nên sản lượng đường tăng so với cùng kỳ năm trước.  Ngành sản xuất bàn, ghế, tình hình tiêu thụ sản phẩm đến thời điểm hiện tại có thuận lợi hơn. Các ngành sản xuất khác như sản xuất trang phục, chế biến gỗ, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại…tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm tương đối ổn định.

8. Thương mại, dịch vụ

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 3 năm 2019 đạt 1.360.935,4 triệu đồng, tăng 8,62% so với tháng trước. Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp ước đạt 1.119.462,0 triệu đồng, chiếm 82,26% trong tổng mức và tăng 6,99% so với tháng trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 157.376,2 triệu đồng, chiếm 11,56% trong tổng mức và tăng 20,39% so với tháng trước; Ngành dịch vụ đạt 84.097,2 triệu đồng, chiếm 6,18% trong tổng mức và tăng  8,16% so với tháng trước.

Nguyên nhân tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 3 năm 2019 tăng so tháng trước là do sau thời gian nghỉ tết Nguyên đán trong tháng 02, các cơ sở sản xuất kinh doanh thương mại, dịch vụ đã hoạt động sản xuất ổn định trở lại nên doanh thu tăng cao.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh quý I năm 2019 ước tính đạt 4.174.270 triệu đồng, tăng 9,50% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 3.458.354,6 triệu đồng, chiếm 82,85% trong tổng mức và tăng 9,56% so với cùng kỳ năm trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 465.456,2 triệu đồng, chiếm 11,15% trong tổng mức và tăng 10,10% so với cùng kỳ năm trước; Ngành dịch vụ đạt 250.459,2 triệu đồng, chiếm 6,00% trong tổng mức và tăng 7,68% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ trên địa bàn  trong  quý I năm 2019 tăng so với cùng kỳ năm trước là do: 3 tháng đầu năm là thời điểm tết Nguyên đán nhưng giá cả các mặt hàng tương đối ổn định và phù hợp với thu nhập của số đông người tiêu dùng nên sức mua tăng; một số doanh nghiệp kinh doanh thương mại đã tăng cường triển khai các chương trình khuyến mại đối với một số mặt hàng, thay đổi mẫu mã và nâng cao chất lượng hàng hóa nhằm kích thích lượng tiêu dùng cũng như sức mua của người dân; mặt khác trong năm 2018 các chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ có tác dụng rõ rệt, các ngành sản xuất khác phát triển ổn định, thu nhập của người dân trên địa bàn tỉnh tăng và chi tiêu cho đời sống trong dịp tết Kỷ Hợi theo đó cũng tăng lên đã làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tăng. Một nguyên nhân nữa làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ trong  quý I năm 2019 tăng so cùng kỳ là do các ngành kinh tế khác phát triển ổn định đã ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của một số ngành như dịch vụ lưu trú, kinh doanh bất động sản, dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ...

b) Vận tải

- Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính tháng 3 năm 2019

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính tháng 3 năm 2019 đạt 145.306,6 triệu đồng, tăng 0,55% so với tháng trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 54.893,46 triệu đồng, tăng  0,23%; Vận chuyển ước đạt 997,47 nghìn lượt khách, tăng 0,22%; Luân chuyển ước đạt 125.558,6 nghìn lượt khách.km, tăng 0,22%.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước đạt 89.826,81 triệu đồng, tăng 0,75%; Vận chuyển ước đạt 993,78 nghìn tấn, tăng 1,2%; Luân chuyển ước đạt 50.009,32 nghìn tấn.km, tăng  0,54%.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu ước đạt 586,33 triệu đồng, tăng 0,31%.

Hoạt động vận tải hành khách và vận tải hàng hóa trong tháng ổn định trở lại sau Tết Nguyên đán và tăng tăng nhẹ so với tháng trước.

- Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính quý I năm 2019

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính quý I năm 2019 đạt  437.741,67 triệu đồng, tăng 11,82 % so với so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 165.499,43 triệu đồng,  tăng  10,22%; Vận chuyển ước đạt 3.011,0 nghìn lượt khách, tăng 6,52%; Luân chuyển ước đạt 379.797,63 nghìn lượt khách.km, tăng  6,68%.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước đạt 270.465,99 triệu đồng, tăng 12,8%; Vận chuyển ước đạt 2.996,27 nghìn tấn, tăng 9,07%; Luân chuyển ước đạt 151.060,78 nghìn tấn.km, tăng  10,48%.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu ước đạt 1.776,25 triệu đồng, tăng 14,98%.

9. Các vấn đề xã hội

a) Đời sống dân cư

Trong quý I năm 2019, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Kon Tum tương đối ổn định, giá cả thị trường của một số mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Kỷ Hợi tuy có tăng nhẹ nhưng không có hiện tượng tăng giá đột biến; tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội được đảm bảo, các vụ phạm pháp hình sự, buôn bán hàng cấm, gian lận thương mại... vẫn còn xảy ra nhưng đã giảm về quy mô và mức độ so với các năm trước; tình hình dịch bệnh, sâu bệnh trên cây trồng có những diễn biến phức tạp ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sản xuất của nhân dân. Song với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND-UBND tỉnh, cùng các ngành, các cấp đã tăng cường công tác quản lý thị trường, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động buôn lậu, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng các mặt hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng; triển khai các phương án, kế hoạch đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ gìn trật tự an toàn giao thông trên địa bàn; rà soát và thực hiện đầy đủ các chính sách an sinh xã hội; tích cực phòng chống dịch bệnh ở người và gia súc; xử lý kịp thời, có hiệu quả các vụ việc khiếu kiện, tranh chấp, mâu thuẫn trong Nhân dân; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong những ngày làm việc trước và sau Tết.

 Thực hiện chương trình bình ổn thị trường phục vụ Tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019. UBND tỉnh Kon Tum đã trích 12 tỷ đồng hỗ trợ vay không lãi suất cho 02 doanh nghiệp (Công ty Cổ phần Thương mại tổng hợp Kon Tum, Công ty TNHH TM-DV Anh Thi), riêng siêu thị Vin Mart và siêu thị Co.op mart tham gia chương trình bình ổn giá nhưng không vay vốn. Các doanh nghiệp tham gia chương trình bình ổn giá đã chuẩn bị tương đối đầy đủ số lượng các mặt hàng thiết yếu như: lương thực, thực phẩm công nghệ (dầu ăn, mắm, muối, bột ngọt, đường kính, hạt nêm, mì tôm,...); thực phẩm chế biến; bánh kẹo, nước ngọt, sữa các loại; thực phẩm tươi sống; trứng gia cầm và tổ chức các điểm bán hàng cố định tại địa bàn các huyện, thành phố; thực hiện bán hàng lưu động về các xã vùng sâu, vùng xa tại 10/10 huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh. Nhìn chung, lượng hàng hóa phục vụ Tết đa dạng, đảm bảo số lượng và chất lượng. Giá cả một số thực phẩm tươi sống có tăng nhẹ, ngày 06/2/2019 (mùng 02 tết) một số mặt hàng đã được mua bán trở lại và giá cả tương đối ổn định không có hiện tượng tăng giá đột biến.

- Đời sống cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương

Trong những năm qua cùng với cơ chế, chính sách về lao động, tiền lương áp dụng đối với cán bộ, công nhân viên chức, người lao động trong khu vực Nhà nước, ngoài Nhà nước, cũng như khu vực sản xuất kinh doanh và khu vực hưởng lương từ ngân sách Nhà nước luôn được điều chỉnh, bổ sung kịp thời cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang được cải thiện và ổn định hơn. Cũng trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019, các doanh nghiệp đã tổ chức chi trả kịp thời tiền lương tháng 01/2019 cho người lao động. Trong điều kiện hoạt động sản xuất, kinh doanh còn khó khăn nhưng hầu hết các doanh nghiệp đều thưởng tháng lương thứ 13 cho công nhân, người lao động; nhiều doanh nghiệp đã trích thưởng Tết cho người lao động với mức thưởng cao nhất là 28 triệu đồng/người, mức thấp nhất là 500 ngàn đồng/người.

- Thực trạng đời sống dân cư nông thôn

Ngay sau Tết nguyên đán, trên cơ sở kế hoạch ra quân phát động phong trào xây dựng nông thôn mới đầu năm 2019 trên địa bàn tỉnh; UBND các huyện, thành phố đã chỉ đạo các xã lựa chọn công trình, chuẩn bị các điều kiện cần thiết, huy động nhân lực của địa phương để đồng loạt ra quân xây dựng nông thôn mới, với sự tham gia hưởng ứng của các tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp và người dân trên địa bàn tỉnh cùng sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự nỗ lực của các Sở, ngành, trong quá trình thực hiện đã đạt được những thành quả nhất định như: hạ tầng nông thôn được cải thiện rõ rệt; diện mạo nông thôn đã có sự chuyển biến tích cực; nhận thức của người dân về xây dựng nông thôn mới đã có những thay đổi, nhờ đó phong trào xây dựng nông thôn mới đã trở thành một phong trào thi đua sâu rộng trong toàn dân, được nhân dân ủng hộ và đồng lòng triển khai thực hiện; đời sống của người dân nông thôn đã được cải thiện đáng kể, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng; đến nay, toàn tỉnh có 15 xã đạt chuẩn 19/19 tiêu chí  (trong đó có 13 xã đã được công nhận nông thôn mới).

- Giải quyết việc làm

Tính đến ngày 28/02/2019 số người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp là 10 người, số người được tư vấn, giới thiệu việc làm 12 người, số người đã có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp 14 người.

Tư vấn, giới thiệu việc làm và học nghề trong 02 tháng đầu năm đạt 44 lượt người; cung ứng cho các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh là 36 lao động; có 75 lao động tham gia XKLĐ (trong đó Ả rập xê út 49 lao động, Nhật bản 14 lao động, Đài Loan 09 lao động, Malaysia 03 lao động).

- Công tác đào tạo nghề: Công tác đào tạo nghề luôn được quan tâm, đặc biệt là công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được triển khai đúng hướng, phù hợp với nhu cầu tạo nguồn lao động cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần quan trọng vào mục tiêu xây dựng nông thôn mới. Tiếp tục duy trì đào tạo các lớp trung cấp nghề, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, theo Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn, với mục tiêu đào tạo phải gắn với quy hoạch sản xuất, quy hoạch xây dựng nông thôn mới và phải gắn với nhu cầu của nhà tuyển dụng. Đối với người lao động sau học nghề đã áp dụng và phát triển nhiều mô hình kinh tế bền vững, có hiệu quả cao như: trồng cao su, cà phê, bời lời, chăn nuôi gia súc, gia cầm... Sau học nghề người lao động có cơ hội tự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, tự tạo việc làm tại chỗ thông qua canh tác, sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi phục vụ cho việc phát triển kinh tế hộ gia đình. Ngoài ra, thông qua công tác tư vấn giới thiệu việc làm người lao động được giới thiệu đến làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.

- Bảo trợ xã hội

Đã tiếp nhận và phân bổ 201 tấn gạo hỗ trợ của Chính phủ cho 3.731 hộ thiếu đói dịp Tết 2019.

Thường trực Tỉnh ủy đã hỗ trợ cán bộ, công chức các cơ quan khối Đảng tỉnh 342,5 triệu đồng; gặp mặt, tặng quà cho 169 cán bộ hưu trí; tổ chức gặp mặt và trao tặng quà cho các đại biểu đại diện các tầng lớp nhân dân, nhân sỹ trí thức, chức sắc các tôn giáo, kiều bào, thân nhân kiều bào trên địa bàn tỉnh với 67 suất quà, tổng giá trị 33,5 triệu đồng.

Sở Lao động - Thương binh và xã hội đã tiếp nhận 300 triệu đồng của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam để hỗ trợ cho 05 huyện có vùng khí hậu lạnh. UBND huyện Đăk Glei và Tu Mơ Rông đã chủ động xuất ngân sách của huyện  để hỗ trợ chăn đắp, áo ấm cứu rét cho 1.933 hộ với kinh phí 1.080,3 triệu đồng.

Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh hỗ trợ 1.043 đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội trong và ngoài công lập trên địa bàn tỉnh trị giá 48 triệu đồng. Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh đã hỗ trợ quần áo, dép mới, quà và tổ chức các hoạt động đón Tết cho các em trong Trung tâm với trị giá 122 triệu đồng.

Các huyện, thành phố cân đối ngân sách và chủ động vận động xã hội hóa hỗ trợ 163,710 tấn gạo cho 3.359 hộ; trích kinh phí địa phương cùng với tiếp nhận hỗ trợ từ các tổ chức cá nhân, tổ chức thăm và tặng quà cho 157 đối tượng yếu thế trong xã hội với số tiền là 304,1 triệu đồng.

Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh đã tiếp nhận, trao tặng 22.849 suất quà của 05 tổ chức, cơ quan, đơn vị doanh nghiệp cho 22.849 người nghèo với tổng kinh phí 13.123,9 triệu đồng.

Đã triển khai thực hiện Chương trình “Ngày hội bánh chưng xanh” tại 639 điểm vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh với 78.483 hộ tham gia và tổng kinh phí thực hiện là 5.671 triệu đồng.

- Thực hiện chính sách với người có công

Đã chi trợ cấp ưu đãi tháng 02/2019 và tặng 11.092 suất quà trị giá 2.903,8 triệu đồng (trong đó có 5.501 suất quà từ nguồn ngân sách Trung ương) cho các đối tượng là người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh.

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã phối hợp với Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn thăm, chúc tết 04 Mẹ Việt Nam anh hùng và tặng 100 suất quà trị giá 500.000 đồng/suất cho một số hộ gia đình chính sách.

b) Giáo dục

Ngày 21/02/2019, Tỉnh đoàn phối hợp Sở GD&ĐT, Sở LĐ-TB&XH, Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum tổ chức Chương trình tư vấn, định hướng nghề nghiệp, việc làm cho 200 học sinh lớp 9, lớp 12 Trường Trung học Phổ thông Dân tộc nội trú huyện Kon Rẫy. Tại buổi tư vấn, các em học sinh được cung cấp thông tin thị trường lao động, tư vấn giới thiệu việc làm ở các doanh nghiệp trong, ngoài tỉnh và xuất khẩu lao động; thông tin các điều kiện, chỉ tiêu, số lượng lao động trong và ngoài nước và định hướng về việc làm, nghề nghiệp trong thời gian tới.

c) Y tế tháng 02/2019

- Tình hình dịch bệnh

Sốt xuất huyết Dengue: Trong tháng, ghi nhận 09 ổ dịch mới với 20 ca mắc mới (TP Kon Tum 03, Đăk Hà 12, Đăk Glei 01, Sa Thầy 04), không có trường hợp tử vong, giảm 03 ca so với tháng trước và tăng 11 ca so với tháng 02/2018.

Tay - chân - miệng: Trong tháng, ghi nhận 12 ca mắc mới, không có trường hợp tử vong, tăng 12 ca so với tháng trước và tăng 12 ca so với tháng 02/2018.

Thủy đậu: Trong tháng, ghi nhận 54 ca mắc mới, không có trường hợp tử vong, tăng 22 ca so với tháng trước và tăng 16 ca so với tháng 02/2018.

Quai bị: Trong tháng, ghi nhận 67 ca mắc mới, không có trường hợp tử vong, tăng 07 ca so với tháng trước và tăng 44 ca so với tháng 02/2018.

Viêm não Nhật Bản: Trong tháng không ghi nhận ca mắc mới.

Viêm gan vi rút A: Trong tháng, không ghi nhận trường hợp mắc mới. Giảm 02 ca so với tháng trước và tăng 02 ca so với tháng 02/2018.

Sốt rét: Trong tháng, ghi nhận 08 ca mắc mới, không có sốt rét ác tính và không có tử vong, giảm 02 ca so với tháng trước và giảm 04 ca so với tháng 02/2018.

Lao: Trong tháng, thu nhận và điều trị 05 bệnh nhân lao các thể, trong đó AFB (+): 01.

Phong: Trong tháng không ghi nhận bệnh nhân mới.

Nhìn chung, tình hình dịch bệnh trong tháng tương đối ổn định; số ca mắc bệnh tay – chân – miệng, sốt xuất huyết, sốt rét giảm so với tháng trước; thủy đậu, quai bị tăng so tháng trước; không ghi nhận mắc mới các bệnh phong, bạch hầu, dại, viêm não Nhật Bản, viêm gan vi rút A, bệnh do vi rút Zika, hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do vi rút Corona . . .

- Phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, ghi nhận 04 trường hợp nhiễm HIV mới (01 trường hợp từ nơi khác chuyển đến), không biến động so tháng trước. Tổng số bệnh nhân điều trị thuốc ARV 108 người (người lớn 102, trẻ em 06).

- An toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm, ghi nhận 07 ca ngộ độc thực phẩm do ăn uống không đảm bảo vệ sinh.

d) Hoạt động văn hóa thể thao

Trong 3 ngày, từ tối 18/3 đến hết ngày 20/3 tuần Văn hóa- Du lịch huyện Kon Plông lần thứ VI năm 2019 được tổ chức tại Khu du lịch sinh thái Quốc gia Măng Đen.

Điểm nhấn trong chuỗi các sự kiện là liên hoan chế tác nhạc cụ dân tộc; chương trình nghệ thuật khai mạc Tuần Văn hóa - Du lịch với chủ đề “Âm vang Măng Đen”; giao lưu cồng chiêng có sự tham gia của hàng trăm nghệ nhân dân tộc Xơ Đăng và H’rê; đại lễ “Uống nước nhớ nguồn”; giới thiệu các  tua du lịch mới mang dấu ấn đại ngàn, vùng đất nơi có ba thác bảy hồ…

Đây là hoạt động mở đầu trong chuỗi sự kiện của Tuần văn hóa Du lịch huyện Kon Plông năm 2019. Đồng thời, cũng là hoạt động kỷ niệm 44 năm, ngày giải phóng tỉnh Kon Tum (16/3/1975-16/3/2019); 69 năm ngày truyền thống Đảng bộ huyện Kon Plông (22/3/1950-22/3/2019) và hướng tới kỷ niệm Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4); 44 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2019).

e) Tình hình  An ninh trật tự - An toàn giao thông (ANTT – ATGT)

- Tình hình  ANTT – ATGT tháng 02/2019

Vi phạm pháp luật về trật tự xã hội: Phát hiện 40 vụ (giảm 25 vụ so với tháng trước), trong đó: Giết người 01 vụ, đe dọa giết người 01 vụ, cố ý gây thương tích 07 vụ, trộm cắp tài sản 08 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 04 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 01 vụ, cướp giật tài sản 01 vụ, vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản 01 vụ, hủy hoại tài sản 01 vụ, làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 01 vụ, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 01 vụ, vu khống 03 vụ, vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ 05 vụ, gây rối trật tự công cộng 01 vụ, chống người thi hành công vụ 01 vụ, đánh bạc 02 vụ, vận chuyển trái phép chất độc 01 vụ. Thiệt hại: chết 04 người, bị thương 143 người, mất 06 mô tô, 02 ĐTDĐ, 65 triệu đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá 70 triệu đồng.

Tội phạm về ma túy: phát hiện 04 vụ tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 94,607 gr ma túy đá.

Tội phạm kinh tế: Phát hiện 18 vụ, trong đó: Vận chuyển lâm sản trái phép 04 vụ, cất dấu lâm sản trái phép 01 vụ, tàng trữ vận chuyển hàng cấm 04 vụ, buôn bán, tàng trữ hàng cấm 01 vụ, vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm 01 vụ, vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên 02 vụ, vi phạm quy định về an toàn thực phẩm 02 vụ, sử dụng pháo trái phép 03 vụ.

Tai nạn giao thông: xảy ra 05 vụ (giảm 02 vụ so với tháng trước). Hậu quả: chết 05 người (giảm 03 người), bị thương 03 người (giảm 04 người), hư hỏng 04 xe ô tô, 03 mô tô, 01 phương tiện khác.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 1.311 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ; tạm giữ 348 phương tiện, 740 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 223 trường hợp, thu 26 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.

- Tình hình ANTT – ATGT 2 tháng đầu năm 2019

Vi phạm pháp luật về trật tự xã hội: Phát hiện 105 vụ, trong đó: Giết người 02 vụ, đe dọa giết người 01 vụ, hiếp dâm người dưới 16 tuổi 01 vụ, trộm cắp tài sản 28 vụ, cố ý gây thương tích 20 vụ, vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ 14 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 09 vụ, cướp giật tài sản 01 vụ, đánh bạc 06 vụ, cướp tài sản 02 vụ, tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ 02 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 02 vụ, tàng trữ súng tự chế 01 vụ, gây rối trật tự công cộng 02 vụ, cố ý gây thương tích, cố ý làm hư hỏng tài sản 01 vụ, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản 01 vụ, hủy hoại tài sản 01 vụ, chống người thi hành công vụ 02 vụ, sử dụng trái phép vật liệu nổ 01 vụ, vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản 01 vụ, làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 01 vụ, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 01 vụ, vu khống 03 vụ, vận chuyển trái phép chất độc 01 vụ. Thiệt hại: chết 07 người, bị thương 27 người, mất 10 mô tô, 02 ĐTDĐ, 104 triệu đồng tiền mặt và một số tài sản khác trị giá 220 triệu đồng.

- Tội phạm về ma túy: phát hiện 10 vụ tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 21 gói bột màu trắng (nghi Hêroin), 26,5916 gr Methamphetamine, 0,5005 gr Ketamine, 0,9853 gr MDMA, 94,607 gr ma túy đá.

- Tội phạm kinh tế: Phát hiện 40 vụ, trong đó: Vận chuyển hàng cấm 13 vụ, vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản 03 vụ, cho vay nặng lãi  trong giao dịch nhân sự 02 vụ, làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức 02 vụ, vận chuyển lâm sản trái phép 05 vụ, vi phạm các quy định về an toàn thực phẩm 01 vụ, cất dấu lâm sản trái phép 01 vụ, tàng trữ vận chuyển hàng cấm 04 vụ, buôn bán, tàng trữ hàng cấm 01 vụ, vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm 01 vụ, vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên 02 vụ, vi phạm quy định về an toàn thực phẩm 02 vụ, sử dụng pháo trái phép 03 vụ.

- Tai nạn giao thông: xảy ra 12 vụ. Hậu quả: chết 13 người, bị thương 10 người, hư hỏng 06 xe ô tô, 13 mô tô, 02 phương tiện khác.

Qua công tác tuần tra kiểm soát, lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 3.984 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ; tạm giữ 1.021 phương tiện, 2.329 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 680 trường hợp, thu 72 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.

f) Tình hình cháy, nổ

Trong tháng 02/2019 xảy ra 03 vụ cháy, trong đó: Cháy xe máy ủi 01 vụ, cháy bãi gỗ 01 vụ, cháy nhà dân 01 vụ, ước thiệt hại về tài sản khoảng 513 triệu đồng. Nguyên nhân do đốt 01 vụ, do sơ suất trong sử dụng lửa 01 vụ, đang điều tra nguyên nhân 01 vụ. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 05 vụ cháy, ước thiệt hại khoảng 568 triệu đồng.

g) Vi phạm môi trường

Trong tháng 02 năm 2019 trên địa bàn tỉnh Kon Tum đã xử lý 01 vụ vi phạm môi trường với số tiền phạt là 8 triệu đồng.

 


[1] Tháng 02/2019 là tháng có tết Nguyên đán Kỷ Hợi  lịch nghỉ Tết từ 02/02/2019 đến 10/02/2019

 

Xem và tải về:   Tải về

Cục Thống kê 

TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC