• Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử của Cục Thống kê tỉnh Kon Tum.
  • Địa chỉ: 415 URE - Phường Trường Chinh - Thành phố Kon Tum - Tỉnh Kon Tum.
Thứ Ba, 22/01/2019 02:48
Thông tin kinh tế xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum tháng 10 năm 2018
Cập nhật: Thứ Hai, 29/10/2018 16:02

 

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a)Nông nghiệp

- Trồng trọt

+ Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ mùa 2018

Ước tính đến thời điểm ngày 15/10/2018 tổng diện tích gieo trồng (DTGT) cây hàng năm vụ mùa năm 2018 tỉnh Kon Tum ước đạt: 63.558 ha, tăng 0,69% (+433 ha) so cùng kỳ năm 2017.

Cây lúa DTGT: 16.738 ha, giảm 1,13% (-191 ha) so cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Cây lúa ruộng diện tích: 12.455 ha, tăng 0,23% (+29 ha);Cây lúa rẫy diện tích: 4.283 ha, giảm 4,89% (-220 ha). Diện tích cây lúa rẫy giảm do trong năm qua giá cả một số cây trồng khác tương đối ổn định mang lại hiệu quả kinh tế cho các hộ nông nghiệp nên một số diện tích trồng lúa rẫy chuyển sang trồng các loại cây trồng khác, mặt khác giống lúa rẫy đã quá cũ, hiệu quả kinh tế mang lại rất thấp.

Cây ngô diện tích: 4.928 ha, giảm 3,99% (-205 ha) so với cùng kỳ năm 2017. Diện tích ngô giảm do năm nay người dân đã chuyển các diện tích gieo trồng cho năng suất thấp sang trồng bời lời, cà phê và một số loại cây khác.

Cây sắn diện tích: 39.526 ha, tăng 2,31% (+892 ha) so với cùng kỳ năm 2017.

Cây lạc DTGT: 125 ha, giảm 3,85% (-5 ha) so cùng kỳ năm 2017.

Đậu các loại DTGT: 325 ha, giảm 7,93% (-28 ha) so cùng kỳ năm 2017.Diện tích cây đậu giảm do những năm trước nông dân tận dụng diện tích đất cây cao su, cây điều đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản để trồng xen. Năm nay, một phần diện tích cây cao su, cây điều đã khép tán trưởng thành nên diện tích cây đậu, lạc giảm so với cùng kỳ năm trước.

Rau các loại: 1.252 ha, tăng 6,83% (+80 ha) so với cùng kỳ năm 2017.

Các loại cây hàng năm khác diện tích gieo trồng không lớn và không biến động lớn so với cùng kỳ năm 2017.

+ Diện tích cây lâu năm: Ước tính đến thời điểm ngày 15/10/2018, tổng diện tích gieo trồng (DTGT) cây lâu năm năm 2018 tỉnh Kon Tum ước đạt: 99.528 ha, tăng 2,44% (+2.374 ha) so với năm 2017.Diện tích gieo trồng cây lâu năm tăng chủ yếu do diện tích gieo trồng cây cà phê tăng.

Diện tích cà phê ước đạt 20.613 ha, tăng 14,82% (+2.661 ha) so với năm 2017. Trong đó, diện tích cà phê trồng mới là 2.038 ha, tăng 32,94% (+505 ha) so với năm 2017. Diện tích cà phê tăng do giá cà phê những năm gần đây tương đối ổn định nên người dân quan tâm đầu tư mở rộng.

Cây cao su tổng diện tích ước đạt: 74.339 ha, giảm 0,56% (-417 ha) so năm 2017. Trong đó, diện tích trồng mới cao su trên địa bàn tỉnh trồng được 78 ha, giảm 64,5% (-142 ha) so với năm 2017.Từ đầu năm đến nay giá mủ cao su có tăng  nhưng vẫn chưa ổn định nên người dân chưa mạnh dạn đầu tư vào trồng mới cây cao su.

- Chăn nuôi: Trong tháng trên địa bàn tỉnh không phát hiện các dịch bệnh nguy hiểm như Cúm gia cầm, Lở mồm long móng gia súc, Tai xanh ở lợn và Dại động vật.

b)Lâm nghiệp

Công tác quản lý bảo vệ rừng, công tác phòng cháy chữa cháy được các ngành chức năng tăng cường chỉ đạo. Do đó, tính đến 15/10/2018, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng.

Tính đến ngày 15/10/2018, trên địa bàn tỉnh xảy ra 46 vụ phá rừng trái pháp luật với diện tích thiệt hại là 22,467 ha, giảm 15 vụ (+13,189 ha) so với cùng kỳ năm trước. Các cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.

Ước tính đến thời điểm 31/10/2018, công tác trồng rừng mới tập trung trên địa bàn tỉnh là 727 ha, giảm 26,14% (-257 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm, đến thời điểm này các doanh nghiệp không có kế hoạch trồng, mặt khác trong nhân dân diện tích đất trồng rừng tập trung không còn nhiều.

Ước tính đến 31/10/2018, số cây trồng phân tán đạt 3.650,96ngàn cây, giảm 1,00%  (-36,88 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước.

Công tác khai thác lâm sản: ước tính đến ngày 31/10/2018, trên địa bàn tỉnh khai thác gỗ là 102.605 m3, tăng 4,13 %  (+4.070 m3) so với cùng kỳ năm trước. Lượng gỗ khai thác tăng do khai thác gỗ rừng trồng trong dân tăng đáng kể.     

Ước tính đến 31/10/2018,sản lượng củi khai thác là 210.895 ster, giảm 1,73 % (-3.718 ste) so cùng kỳ năm trước, bao gồm: Củi tận dụng trên rừng trồng doanh nghiệp khai thác là 1.040 ster; củi các hộ cá thể tự khai thác là 209.855 ster.

c) Thủy sản

Tính đến 15/10/2018, ước tính diện tích nuôi trồng thủy sản là 650 ha, tăng 4,00% (+25 ha), so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thuỷ sản là 3.631 tấn, tăng 9,71 % (+321tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

Sản lượng nuôi trồng nước ngọt là 2.298 tấn, tăng 9,51% (+199 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng khai thác nước ngọt là 1.333 tấn, tăng 10,10% (+122 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thủy sản tăng so với cùng kỳ năm trước là do diện tích nuôi trồng thủy sản tăng và số lồng bè nuôi trồng thủy sản tăng 9,51 % (+23 lồng) so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó việc khai thác đánh bắt của các hộ trên lòng hồ thủy lợi, thủy điện, sông suối... thuận lợi nên sản lượng thủy sản trong kỳ tăng lên.

2. Côngnghiệp

- Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 10 năm 2018

So với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 10 ước tính tăng 12,12%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 31,15%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,33%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 26,47%. Do thời tiết năm nay mưa nhiều hơn so với năm trước, lượng nước trong các hồ chứa tương đối đảm bảo, điều kiện thủy văn thuận lợi các đơn vị ổn định sản xuất nên sản lượng điện tăng; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,89%.

So với tháng trước, hoạt động sản xuất của các đơn vị, cơ sở trên địa bàn tương đối ổn định, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 10  tăng 5,94%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 0,02%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,22%. Nguyên nhân chủ yếu do ngành công nghiệp chế biến thực phẩm tăng, đến tháng 10 các nhà máy sản xuất tinh bột sắn trên địa bàn tỉnh đã vào vụ thu mua nguyên liệu để hoạt động sau thời gian nghỉ mùa vụ, lượng tinh bột sắn sản xuất tăng đã làm chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến tăng so tháng trước; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,2%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 2,74%.

- Tình hình hoạt động  sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2018

Tính chung 10 tháng năm 2018 ước tínhchỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 16,04% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 7,44 %; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,87%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 19,91%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,07% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính một số sản phẩm chủ yếu sản xuất trong 10  tháng  năm 2018 như sau: Đá xây dựng khai thác 331.884 m3, tăng 14,19% so với cùng kỳ năm trước; Tinh bột sắn sản xuất 182.426 tấn, tăng 5,63% so với cùng kỳ năm trước; Đường RE 16.104 tấn, bằng 88,04% so với cùng kỳ năm trước; Gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn đạt 165,612 triệu viên, tăng 16,39% so với cùng kỳ năm trước, điện sản xuất  969,63 triệu Kwh, tăng 21,44% so với cùng kỳ năm trước.

   Nhìn chung, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến nay phát triển tương đối ổn định. Chỉ số sản xuất công nghiệp hàng tháng đều đạt mức tăng trưởng khá, một số nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy  trì hoạt động ổn định và phát triển, có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, các nhà máy sản xuất tinh bột sắn do nguồn nguyên liệu đảm bảo đã hoạt động ổn định.  Các ngành sản xuất như sản xuất trang phục, chế biến gỗ, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại…tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm tương đối ổn định.Đối với ngành sản xuất điện, sản lượng điện sản xuất trong 10 tháng năm 2018 tăng cao so cùng kỳ, nguyên nhân chủ yếu do năm nay thời tiết thuận lợi  mùa mưa  đến sớm và nhiều hơn năm trước, lượng nước ở các hồ chứa tương đối đảm bảo, điều kiện thủy văn thuận lợi, vì vậy các đơn vị sản xuất điện chủ động tăng công suất hoạt động của các nhà máy nên sản lượng điện sản xuất tăng.

3. Vốn đầu tư

- Ước tính vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Kon Tum tháng 10 năm 2018

Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum tháng 10 năm 2018 đạt 108.053 triệu đồng, bằng 94,26% so với cùng kỳ, trong tổng vốn:

Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 86.089 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 79,67%, trong tổng số nguồn vốn, tăng 1,03% so với cùng kỳ. Trong đó: nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 33.285 triệu đồng chiếm 38,66%; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 14.246 triệu đồng, chiếm 16,55%; nguồn vốn ODA đạt 27.980 triệu đồng, chiếm 32,50%; nguồn vốn Xổ số kiến thiết đạt 3.961 triệu đồng, chiếm 4,60%; nguồn vốn khác đạt 6.617 triệu đồng, chiếm 7,69% trong tổng nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh.

Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 21.964 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 20,33% trong tổng số nguồn vốn, bằng 74,86% so với cùng kỳ. Trong đó: vốn cân đối ngân sách huyện đạt 6.542 triệu đồng, chiếm 29,79%; vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 12.709 triệu đồng, chiếm 57,86%; nguồn vốn khác đạt 2.713 triệu đồng, chiếm 12,35% trong tổng nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện. 

- Ước tính vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Kon Tum 10 tháng năm 2018.

Ước tính vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum 10 tháng năm 2018 đạt 1.068.257 triệu đồng, tăng 5,70% so với cùng kỳ, trong tổng vốn:

Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 843.781 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 78,99% trong tổng số nguồn vốn, tăng 15,92% so với cùng kỳ. Trong đó: nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 481.445 triệu đồng, chiếm 57,06%; nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 126.979 triệu đồng, chiếm 15,05%; nguồn vốn ODA đạt 135.496  triệu đồng, chiếm 16,06%; nguồn vốn Xổ số kiến thiết đạt 38.019 triệu đồng, chiếm 4,51%; nguồn vốn khác đạt 61.842 triệu đồng, chiếm 7,33% trong tổng số nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh.

Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 224.010 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 20,97% trong tổng số nguồn vốn, đạt 79,34% so với cùng kỳ. Trong đó: vốn cân đối ngân sách huyện đạt 98.595 triệu đồng, chiếm 44,01%; vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 109.991 triệu đồng, chiếm 49,10%; nguồn vốn khác đạt 15.424 triệu đồng, chiếm 6,89% trong tổng nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện.

Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp xã đạt 466 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 0,04% trong tổng số nguồn vốn, tăng 13,93% so với cùng kỳ.

Trong 10 tháng năm 2018 vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, cải tạo nâng cấp các tuyến đường giao thông, kiên cố hóa các kênh mương, trụ sở làm việc UBND các xã, công trình cấp nước sinh hoạt, công trình giáo dục, y tế trên địa bàn.

Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong 10 tháng năm 2018 diễn ra thuận lợi. Để đạt được kết quả này là nhờ sự nỗ lực chỉ đạo của các cấp, các ngành chức năng, sự phối hợp kiểm tra, đôn đốc và kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc của nhà thầu thi công nên hầu như các dự án, công trình trên địa bàn tỉnh đang được đẩy nhanh tiến độ, nhất là các dự án, công trình trọng điểm có tầm ảnh hưởng tích cực đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. 

4. Thương mại, dịch vụ và giá cả

a) Bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 10 năm 2018 đạt 1.497.120,7 triệu đồng, tăng 0,35% so với tháng trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 1.231.728,4 triệu đồng, chiếm 82,27% trong tổng mức và tăng 0,37% so với tháng trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 176.790,7 triệu đồng, chiếm 11,81% trong tổng mức và tăng 0,07% so với tháng trước; Ngành dịch vụ đạt 88.601,6 triệu đồng, chiếm 5,92% trong tổng mức và tăng 0,62% so với tháng trước.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh 10 tháng  năm 2018 ước tính đạt 13.958.509,6 triệu đồng, tăng 12,98% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 11.486.691,7 triệu đồng, chiếm 82,29% trong tổng mức và tăng 12,54% so với cùng kỳ năm trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 1.635.875,5 triệu đồng, chiếm 11,72% trong tổng mức và tăng 16,85% so với cùng kỳ năm trước; Ngành dịch vụ đạt 835.942,4 triệu đồng, chiếm 5,99% trong tổng mức và tăng 11,75% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ trên địa bàn  tỉnh trong 10 tháng năm 2018 tăng so với cùng kỳ năm trước là do: trong 10 tháng năm 2018 các chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ nhằm ổn định giá cả thị trường đã có hiệu quả rõ rệt, bên cạnh nỗ lực của các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh nên giá cả các mặt hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng tương đối ổn định và phù hợp với thu nhập của số đông người tiêu dùng nên sức mua tăng; một số doanh nghiệp kinh doanh thương mại đã tăng cường triển khai các chương trình khuyến mại đối với một số mặt hàng, thay đổi mẫu mã và nâng cao chất lượng hàng hóa nhằm kích thích lượng tiêu dùng cũng như sức mua của người dân; mặt khác trong năm 2018 các ngành sản xuất khác như công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp... phát triển tương đối ổn định, thu nhập của người dân trên địa bàn tỉnh tăng và chi tiêu cho đời sống theo đó cũng tăng lên đã làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tăng. Bên cạnh đó, một nguyên nhân nữa làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ trong 10 tháng tăng so cùng kỳ là do các ngành kinh tế khác phát triển ổn định đã ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của một số ngành như dịch vụ lưu trú, kinh doanh bất động sản, dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ...

b)Vận tải

-Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính tháng 10 năm 2018

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính tháng 10 năm 2018 đạt 138.361,53 triệu đồng, tăng 0,77 % so với tháng trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 53.671,78 triệu đồng, giảm  0,1%; Vận chuyển ước đạt 955,62 nghìn lượt khách, giảm 0,24%; Luân chuyển ước đạt 126.308,48 nghìn lượt khách.km, giảm 0,31%.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước đạt 84.101,23 triệu đồng, tăng  1,39%; Vận chuyển ước đạt 955,62 nghìn tấn, tăng 0,93%; Luân chuyển ước đạt 48.165,81 nghìn tấn.km, tăng  1,86%.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu ước đạt 588,52 triệu đồng, tăng 0,95%.

Doanh thu và khối lượng vận chuyển hành khách ước tính trong tháng giảm so với tháng trước là do trong tháng nhu cầu đi của người dân giảm theo mùa vụ. Doanh thu và khối lượng vận chuyển hàng hoá trong tháng tăng so với tháng trước, là do trong tháng thời tiết đã chuyển sang mùa khô nên hoạt động vận tải hàng hóa phục vụ ngành xây dựng và vận tải sản phẩm ngành nông nghiệp tăng, nhất là sản phẩm sắn đang vào mùa thu hoạch.

-Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính 10 tháng năm 2018

Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính 10 tháng năm 2018 đạt 1.334.055,22 triệu đồng, tăng 12,07% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu đạt 514.703,2 triệu đồng, tăng 12,53%; Vận chuyển đạt 9.660,27 nghìn lượt khách, tăng 9,68%; Luân chuyển đạt 1.224.289,58 nghìn lượt khách.km, tăng 9,23%.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu đạt 813.883,75 triệu đồng, tăng 11,77%; Vận chuyển đạt 9.316,41 nghìn tấn, tăng 9,65%; Luân chuyển đạt 463.195,09 nghìn tấn.km, tăng 8,55%.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu đạt 5.468,27 triệu đồng, tăng 13,35%.

c) Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 năm 2018 tăng 0,31% so với tháng trước; tăng 3,52% so với cùng kỳ năm trước; tăng 2,29% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân 10 tháng năm 2018 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,86%.

 Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, so với tháng trước có 07 nhóm tăng: nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,2%; nhóm Đồ uống và thuốc lá tăng 0,1%; nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,37%; nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,09%; nhóm Giao thông tăng 1,6%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,42%. Có 02 nhóm giảm là nhóm May mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,07%; nhóm giáo dục giảm 0,03%. Có 02 nhóm ổn định là nhóm Thuốc và dịch vụ y tế và nhóm Bưu chính viễn thông.

Giá vàng biến động theo giá vàng thế giới và trong nước với xu hướng giảm so với tháng trước, giá vàng 9999 trên địa bàn tỉnh tháng 10/2018 được bán với giá bình quân khoảng 3.443.000 đồng/chỉ, giảm 0,43% so với tháng trước; tỷ giá USD/VND bình quân giao dịch ở mức 23.207 đồng/USD tăng 0,21%.

5. Một số tình hình xã hội 

a)Y tế

- Tình hình dịch bệnh:

+ Tay - Chân - Miệng:Trong tháng, ghi nhận 19 ca mắc mới, tăng 04ca so với tháng trước và giảm 115ca so với tháng 9/2017. Lũy tích đến 30/9/2018, ghi nhận 99ca, không có tử vong, giảm 163ca so cùng kỳ năm trước.

+ Thủy đậu: Trong tháng, ghi nhận 05 ca mắc mới, giảm 06 ca so với tháng trước và giảm 23 ca so với tháng 9/2017.Lũy tích đến 30/9/2018, ghi nhận 349 ca, không có tử vong, giảm 462 ca so cùng kỳ năm trước.

+ Quai bị: Trong tháng, ghi nhận 23 ca mắc mới, tăng 09 ca so với tháng trước và tăng 11 ca so với tháng 9/2017.Lũy tích đến 30/9/2018, ghi nhận 270 ca, không có tử vong, tăng 102 ca so cùng kỳ năm trước.

+Sốt xuất huyết Dengue: Trong tháng,ghi nhận 92 ca mắc mới, tăng 19 ca so với tháng trước và giảm 02 ca so với tháng 9/2017; trong đó ghi nhận 32 ổ dịch mới. Lũy tích đến 30/9/2018, ghi nhận 263 ca, không có tử vong, giảm 89 ca so với cùng kỳ năm trước.

+ Sốt rét: Trong tháng, ghi nhận 34 ca mắc mới, tăng 13 ca so với tháng trước và tăng 10 ca so với tháng 9/2017.Lũy tích đến 30/9/2018, ghi nhận 162 ca, không có sốt rét ác tính và không có tử vong, giảm 10 ca so với cùng kỳ năm trước.

+ Viêm não Nhật Bản: Trong tháng, không ghi nhận mắc mới. Lũy tích đến 30/9/2018,ghi nhận 02ca, không có tử vong, giảm 01 ca so với cùng kỳ năm trước.

+Viêm gan vi rút A: Trong tháng,ghi nhận 01 ca mắc mới (Kon Rẫy 01), giảm 03 ca so với tháng trước và tăng 01ca so với tháng 9/2017. Lũy tích đến 30/9/2018, ghi nhận 41ca, không có tử vong, tăng 37 ca so với cùng kỳ năm trước.

+ Bạch hầu: Trong tháng,ghi nhận 01 ca mắc mới và tử vong, tăng 01 ca so với tháng trước và tăng 01 ca so với tháng 9/2017. Lũy tích đến 30/9/2018, ghi nhận 02 ca mắc và tử vong, tăng 02 ca so với cùng kỳ năm trước.

+ Lao: Trong tháng, thu nhận và điều trị 20 bệnh nhân lao các thể, trong đó AFB (+): 07.Lũy tích đến 30/9/2018, thu nhận và điều trị 191bệnh nhân lao các thể.

+ Phong:Trong tháng, không ghi nhận bệnh nhân phong mới. Tính đến 30/9/2018, ghi nhận 02 bệnh nhân phong mới; quản lý và điều trị 224 bệnh nhân.

+Bệnh dại: Trong tháng, không ghi nhận ca mắc mới. Lũy tích đến 30/9/2018,  ghi nhận 04 ca mắc và tử vong và tăng 03 caso với cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, tình hình dịch bệnh trong tháng tương đối ổn định; tuy nhiên số ca mắc các bệnh tay - chân - miệng, quai bị, sốt xuất huyết, sốt rét, viêm gan vi rút A, bạch hầu tăng so với tháng trước.

- Phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, ghi nhận 01 trường hợp nhiễm HIV mới và 01 trường hợp người tử vong do AIDS. Lũy tích nhiễm HIV/AIDS tính đến ngày 30/9/2018: 474 người, trong đó số người tử vong do AIDS 177, số người nhiễm HIV/AIDS còn sống 297 người (đang quản lý được 128 người). Số bệnh nhân hiện đang điều trị thuốc ARV: 106 người, trong đó: 100 người lớn và 06 trẻ em; điều trị dự phòng cho 01 trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV; điều trị dự phòng lao bằng Isoniazid (INH) 32 người.

- Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc; có 20 ca ngộ độc thực phẩm do ăn uống không bảo đảm vệ sinh.

b) Hoạt động vănhóa, thể thao

Trung tâm Văn hóa Thể thao Thanh thiếu nhi tỉnh phối hợp với Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh, Huyện đoàn, Phòng GD&ĐT, Phòng LĐ-TB&XH tổ chức chương trình “Đêm hội trăng rằm” năm 2018, cho hơn 1.000 thiếu nhi trên địa bàn huyện Tu Mơ Rông.

Từ ngày 28-30/9/2018, Liên đoàn Cầu lông tỉnh tổ chức Giải cầu lông các câu lạc bộ tỉnh Kon Tum năm 2018.Tham dự giải có 116 vận động viên đến từ 7 câu lạc bộ cầu lông trên địa bàn tỉnh.Giải tổ chức nhằm tạo điều kiện cho các vận động viên giao lưu, học tập kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn, góp phần phát triển phong trào cầu lông trong cán bộ, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh.

c) Tình hình giáo dục

Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum tổ chức Lễ khai giảng năm học mới 2018-2019.Năm học 2018 - 2019, Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum tuyển sinh mới 400 sinh viên, nâng tổng số sinh viên toàn trường lên hơn 2.000 em. Hiện tại, Phân hiệu có trên 100 cán bộ, giảng viên tham gia giảng dạy, thực hiện các nhiệm vụ khác. Phân hiệu đã đầu tư sửa chữa, xây dựng mới hoàn thiện 2 cơ sở trực thuộc với tổng diện tích 3ha, bao gồm: các khu đa năng, phòng chuyên môn, nghiên cứu, học tập, thư viện, máy tính, thực hành, kí túc xá…Thời gian qua, phân hiệu đã triển khai 18 chuyên ngành đào tạo bậc đại học, sau đại học cho hàng ngàn cử nhân, thạc sĩ, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ phát triển tỉnh Kon Tum nói riêng, cả nước nói chung.Nhân dịp khai giảng năm học mới, đã có 150 lượt sinh viên được trao học bổng với tổng giá trị 100 triệu đồng, bao gồm: học bổng cho tân sinh viên thủ khoa năm học 2018-2019; các sinh viên nghèo, DTTS vượt khó đạt thành tích cao trong học tập.

d)An ninh trật tự - An toàn giao thông (ANTT-ATGT)

- Tình hình  ANTT - ATGT tháng 9/2018

Vi phạm pháp luật về trật tự xã hội: Phát hiện 35 vụ (giảm 08 vụ so với tháng trước),trong đó: Vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ 09 vụ, trộm cắp tài sản 09 vụ, cố ý gây thương tích 05 vụ, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản 02 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 02 vụ, hiếp dâm đối với người dưới 16 tuổi 01 vụ, cưỡng đoạt tài sản 01 vụ, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 01 vụ, dâm ô đối với người dưới 16 tuổi 01 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 01 vụ, cố ý gây thương tích, cố ý làm hư hỏng tài sản 01 vụ, cố ý làm hư hỏng tài sản 01 vụ, đánh bạc 01 vụ.

 Tội phạm về ma túy: phát hiện 05 vụ (tăng 01 vụ so với tháng trước), trong đó: tàng trữ trái phép chất ma túy 04 vụ, vận chuyển trái phép chất ma túy 01 vụ.

Tội phạm kinh tế: Phát hiện 03 vụ, trong đó: Vận chuyển lâm sản trái phép 01 vụ, vận chuyển hàng cấm 01 vụ, Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản 01 vụ.

 Tai nạn giao thông: xảy ra 07 vụ (giảm 01 vụ so với tháng trước). Hậu quả: chết 08 người, bị thương 03 người, hư hỏng 04 xe ô tô, 07 xe mô tô, 03 phương tiện khác.

Qua công tác tuần tra kiểm soát, lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 1.411 trường hợp vi phạm Luật GTĐB; tạm giữ 318 phương tiện, 761 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 1.602 trường hợp, thu 671.467.000  đồng nộp ngân sách.

- Tình hình ANTT – ATGT 9 tháng năm 2018

Vi phạm pháp luật về trật tự xã hội: phát hiện 302 vụ. Trong đó: Trộm cắp tài sản 88 vụ, cố ý gây thương tích 55 vụ, giết người 09 vụ, giết người, gây rối trật tự công cộng 02 vụ, vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 32 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 16 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 14 vụ, chống người thi hành công vụ 03 vụ, dâm ô với trẻ em 01 vụ, cưỡng đoạt tài sản 05 vụ, cố ý gây thương tích dẫn đến chết người 01 vụ, sử dụng trái phép vật liệu nổ 01 vụ, làm nhục người khác 01 vụ, đánh bạc 12 vụ, chứa mại dâm 01 vụ, hiếp dâm trẻ em 03 vụ, gây rối trật tự công cộng 04 vụ, cướp tài sản 05 vụ, vô ý làm chết người 02 vụ, hủy hoại tài sản 03 vụ, đe dọa giết người 01 vụ, tàng trữ sử dụng vũ khí quân dụng 02 vụ, cố ý hủy hoại tài sản 01 vụ, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng 02 vụ, sử dụng con dấu tài liệu giả của cơ quan tổ chức 02 vụ, giao cấu với trẻ em 01 vụ, tham ô tài sản 01 vụ, cố ý làm hư hỏng tài sản 03 vụ, giết người, cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng 01 vụ, bắt giữ người trái pháp luật 01 vụ, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có 01 vụ, trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích 01 vụ, cướp giật tài sản 01vụ, công nhiên chiếm đoạt tài sản 01 vụ, cố ý gây thương tích, tàng trữ, sử dụng vũ khí trái phép 01 vụ, tàng trữ, sử dụng vũ khí trái phép 01 vụ, vi phạm các quy định khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản 02 vụ, khai thác lâm sản trái phép 01 vụ, dâm ô đối với người dưới 16 tuổi 03 vụ, hiếp dâm 03 vụ, hiếp dâm đối với người dưới 16 tuổi 02 vụ, cố ý gây thương tích, cố ý làm hư hỏng tài sản 02 vụ, trộm cắp tài sản, huỷ hoại tài sản 01 vụ, trộm cắp tài sản, mua bán trái phép chất ma tuý 01 vụ, vận chuyển lâm sản trái phép 01 vụ, vận chuyển hàng cấm 01 vụ, cho vay nặng lãi trong giao dịch nhân sự 02 vụ, vi phạm chế độ một vợ một chồng 01 vụ, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản 01 vụ, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản 02 vụ. 

Tội phạm về ma túy: phát hiện 35 vụ, trong đó: Tàng trữ trái phép chất ma túy 19 vụ, vận chuyển trái phép chất ma túy 02 vụ, tàng trữ trái phép chất ma túy và tàng trữ súng tự chế 01 vụ, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy 01 vụ, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy 12 vụ.

 Tội phạm kinh tế: phát hiện 40 vụ, trong đó: Vận chuyển pháo trái phép 23 vụ, tàng trữ trái phép 02 vụ, sử dụng trái phép pháo 03 vụ, tàng trữ  vận chuyển trái phép pháo 02 vụ, vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản 06 vụ, cho vay nặng lãi trong giao dịch nhân sự 02 vụ, vận chuyển lâm sản trái phép 01 vụ, vận chuyển hàng cấm 01 vụ.

 Tai nạn giao thông: xảy ra 48 vụ. Hậu quả: chết 52 người, bị thương 51 người, hư hỏng 22 xe ô tô, 37 xe mô tô, 01 xe đạp, 03 phương tiện khác.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 16.362 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ; tạm giữ 5.506 phương tiện, 7.333 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 16.959 trường hợp, thu 8.921 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.

e) Tình hình cháy, nổ

Trong tháng 9/2018 xảy ra 01 vụ cháy nhà dân. Nguyên nhân do sơ suất, bất cẩn trong quá trình sử dụng lửa, ước thiệt hại khoảng 33 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 27 vụ cháy, ước tổng thiệt hại khoảng 3.987 triệu đồng.

Xem và tải về:   Tải về

Cục Thống kê 

TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC