• Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử của Cục Thống kê tỉnh Kon Tum.
  • Địa chỉ: 415 URE - Phường Trường Chinh - Thành phố Kon Tum - Tỉnh Kon Tum.
Thứ Sáu, 19/10/2018 16:20
Thông tin kinh tế xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum tháng 9 năm 2018
Cập nhật: Thứ Sáu, 28/09/2018 15:39

 

1. Tăng trưởng kinh tế

Trong  9 tháng năm 2018, kinh tế nước ta nói chung, tỉnh Kon Tum nói riêng diễn ra trong bối cảnh vẫn còn khó khăn. Tuy nhiên, dưới sự giám sát, chỉ đạo điều hành quyết liệt của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh và sự nỗ lực của các cấp, các ngành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tình hình kinh tế trên địa bàn tỉnh Kon Tum đã đạt được những kết quả tích cực. Kết quả đạt được trên một số lĩnh vực trong 9 tháng năm 2018 cụ thể như sau:

- Thu ngân sách nhà nước khoảng 1.957,5 tỷ đồng, đạt 89,3% dự toán và bằng 112,5% so với cùng kỳ năm trước.

- Chi ngân sách địa phương ước đạt 4.248 tỷ đồng, đạt 52,8% nhiệm vụ chi và bằng 113,9% so với cùng kỳ năm trước.

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2018 tăng 0,52% so với tháng trước; tăng 3,41% so với cùng kỳ năm trước; tăng 1,98% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân 9 tháng năm 2018 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,79%.

- Ước tính vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh đạt 8.624.550 triệu đồng tăng 36,63% so với cùng kỳ năm trước.

- Ước tính chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 16,21% so cùng kỳ năm trước.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính đạt 12.465.818,4 triệu đồng, tăng 12,48% so với cùng kỳ năm trước.

 

2. Tài chính, ngân hàng

- Thu ngân sách nhà nước khoảng 1.957,5 tỷ đồng, đạt 89,3% dự toán và bằng 112,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 1.690,8 tỷ đồng, đạt 77,9% kế hoạch.

- Chi ngân sách địa phương ước đạt 4.248 tỷ đồng, đạt 52,8% nhiệm vụ chi và bằng 113,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 1.375 tỷ đồng, đạt 48,4% nhiệm vụ chi.

- Ngân hàng: Tín dụng có tốc độ tăng trưởng tốt, mặt bằng lãi suất cho vay ổn định, huy động vốn đến 30/9/2018 ước đạt 13.700 tỷ đồng, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước; dư nợ tín dụng ước đạt 27.000 tỷ đồng, tăng 9,8% so với đầu năm, trong đó nợ xấu 435tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,9%/tổng dư nợ.

 

3. Giá cả, lạm phát

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 năm 2018 tăng 0,52% so với tháng trước; tăng 3,41% so với cùng kỳ năm trước; tăng 1,98% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân 9 tháng năm 2018 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,79%.

 Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, so với tháng trước có 05 nhóm tăng: nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,63%; nhóm Đồ uống và thuốc lá tăng 0,04%; nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,26%; nhóm Giao thông tăng 0,81%; nhóm giáo dục tăng 3,33%. Có 03 nhóm giảm là nhóm Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,07%; nhóm Bưu chính viễn thông giảm 0,11% và văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,01%. Có 03 nhóm ổn định là nhóm May mặc, mũ nón, giầy dép; nhóm Thuốc và dịch vụ y tế và nhóm hàng hóa và dịch vụ khác.

Giá vàng biến động theo giá vàng thế giới và trong nước với xu hướng giảm so với tháng trước, giá vàng 9999 trên địa bàn tỉnh tháng 9/2018 được bán với giá bình quân khoảng 3.458.000 đồng/chỉ, giảm 0,23% so với tháng trước; tỷ giá USD/VND bình quân giao dịch ở mức 23.159 đồng/USD tăng 0,12%.

 

4. Đầu tư và xây dựng

a) Vốn đầu tư

- Ước tính vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh quý III năm 2018 đạt 3.313.382 triệu đồng, tăng 14,89% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể phân  theo nguồn vốn như sau:

Vốn nhà nước trên địa bàn thực hiện là 861.857 triệu đồng, tăng 14,60% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 26,01% trong tổng số nguồn vốn, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước do trung ương quản lý đạt 337.147 triệu đồng, tăng 23,83% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 39,12%; nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý đạt 524.710 triệu đồng, tăng 9,36% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 60,88%, chủ yếu đầu tư phát triển các chương trình mục tiêu, xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thủy lợi, giao thông, giáo dục, y tế, ...

Nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc khu vực ngoài nhà nước đạt 2.446.573 triệu đồng, tăng 14,83% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 73,84% trong tổng nguồn vốn, trong đó: Vốn đầu tư của doanh nghiệp đạt 600.223 triệu đồng, bằng 95,01% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 24,53%; vốn đầu tư của các hộ gia đình đạt 1.846.350 triệu đồng, tăng 23,18% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 75,47%, chủ yếu đầu tư của khu vực hộ dân cư trong xây dựng, sửa chữa nhà, chăn nuôi, ...

Nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 4.952 triệu đồng, chiếm 0,15% trong tổng nguồn vốn, chủ yếu thực hiện các khoản mục đầu tư mua sắm máy móc thiết bị không qua XDCB, bổ sung vốn lưu động và sửa chữa nâng cấp tài sản cố định của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

- Ước tính vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2018 đạt 8.624.550 triệu đồng tăng 36,63% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể  phân theo nguồn vốn như sau:

Vốn nhà nước trên địa bàn thực hiện là 2.123.533 triệu đồng, tăng 24,92% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 24,62% trong tổng số nguồn vốn, trong đó: Vốn ngân sách nhà nước do trung ương quản lý đạt 762.613 triệu đồng, tăng 57,29% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 35,91%; nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý đạt 1.360.920 triệu đồng, tăng 12,00% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 64,09%, chủ yếu đầu tư phát triển các chương trình mục tiêu, xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thủy lợi, giao thông, giáo dục, y tế, ...

Nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc khu vực ngoài nhà nước đạt 6.492.102 triệu đồng, tăng 41,54% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 75,27% trong tổng nguồn vốn, trong đó: Vốn đầu tư của doanh nghiệp đạt 2.263.288 triệu đồng, tăng 66,99% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 34,86%; vốn đầu tư của các hộ gia đình đạt 4.228.814 triệu đồng, tăng 30,86% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 65,14%, chủ yếu đầu tư của khu vực hộ dân cư trong xây dựng, sửa chữa nhà, chăn nuôi, ...

  Nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 8.915 triệu đồng, bằng 35,03% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 0,10% trong tổng nguồn vốn, chủ yếu thực hiện các khoản mục đầu tư mua sắm máy móc thiết bị không qua XDCB, bổ sung vốn lưu động và sửa chữa nâng cấp tài sản cố định của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

- Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2018 đạt 961.806 triệu đồng, tăng 7,34% so với cùng kỳ năm trước.  Trong tổng số nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý , Chia ra:

Vốn Ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước đạt 759.024 triệu đồng, tăng 18,10% so với cùng kỳ và chiếm 78,92% trong tổng số nguồn vốn, chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng về lĩnh vực thuỷ lợi, giao thông, giáo dục, y tế, cấp nước sinh hoạt nông thôn, môi trường nông thôn, đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, các thôn đặc biệt khó khăn... Trong đó: Vốn cân đối Ngân sách tỉnh đạt 448.600 triệu đồng, chiếm 59,10%; Vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 112.438 triệu đồng, chiếm 14,81%; Vốn ODA đạt 108.443 triệu đồng, chiếm 14,29%; Vốn Xổ số kiến thiết đạt 34.737 triệu đồng, chiếm 4,58%; Vốn khác đạt 54.806 triệu đồng, chiếm 7,22% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh.

Vốn Ngân sách Nhà nước cấp huyện ước đạt 202.316 triệu đồng, đạt 79,97% so với cùng kỳ và chiếm 21,04% trong tổng số nguồn vốn, chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn như đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa… trên địa bàn các huyện, thành phố thuộc tỉnh. Trong đó: Vốn cân đối Ngân sách huyện đạt 92.259 triệu đồng, chiếm 45,60%; Vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 97.342 triệu đồng, chiếm 48,11%; Vốn khác đạt 12.715 triệu đồng, chiếm 6,28% trong tổng nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện.

Trong 9 tháng năm 2018 nguồn vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý và vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Kon Tum chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, cải tạo nâng cấp các tuyến đường giao thông, kiên cố hóa các kênh mương, công trình cấp nước sinh hoạt; công trình giáo dục; y tế… trên địa bàn các huyện, thành phố.

b) Xây dựng

Trong 9 tháng năm 2018 hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh diễn ra đồng bộ trên các khu vực kinh tế, trong đó tập trung ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và hộ dân cư, chủ yếu xây dựng nhà ở mới với mức đầu tư cao và sửa chữa các công trình khác. Các đơn vị hoạt động xây lắp triển khai thi công các công trình trọng điểm có vốn đầu tư cao trong năm 2018 như:

- Công trình kỹ thuật dân dụng: đường giao thông kết nối từ đường Hồ Chí Minh đi quốc lộ 24, xây dựng cầu và đường 2 đầu cầu Đăk Bla mới thuộc dự án tuyến tránh thành phố Kon Tum, cầu qua sông Đăk Bla số 03 (từ xã Vinh Quang đi phường Nguyễn Trãi thành phố Kon Tum), cầu qua sông Đak Bla số 01 (từ phường Thắng Lợi đi khu dân cư Kon Di)  xã Đăk  Rơ Wa thành phố Kon Tum, đường giao thông nông thôn đi thôn 1 xã Ia Tơi huyện Ia H’Drai, đường trục chính nội đồng Kon Hia 3 xã Đăk Rơ Ông huyện Tu Mơ Rông, đường Nam Quảng Nam (Km147+381-km160+944,54),  đường từ xã Rờ Kơi huyện Sa Thầy đi xã Sa Loong huyện Ngọc Hồi (GĐ 1), đường nội thôn ViGlong xã Hiếu huyện KonPlông,  nâng cấp tỉnh lộ 675 (km40+500_km53+90) huyện Sa Thầy,  nâng cấp, mở rộng đường từ tỉnh lộ 675 đi xã Sa Nhơn huyện Sa Thầy,...

- Xây dựng công trình nhà không để ở: xây dựng trụ sở làm việc Tòa Án Nhân dân huyện Ia H’Drai, đồn biên phòng Rờ  Kơi, đồn biên phòng Đăk Blô (665), đồn biên phòng Đăk Nhoong (669), doanh trại cơ quan Quân đoàn 3, trụ sở làm việc huyện ủy, HĐND-UBND, mặt trận đoàn thể và các công trình phụ trợ  huyện Ia H’Drai, trụ sở làm việc Chi cục Thuế huyện Ia  H’Drai, nâng cấp bệnh viện Đa khoa khu vực Ngọc Hồi... Công trình giáo dục: dự án Kiên cố hoá trường học, lớp học mầm non, tiểu học trên địa bàn huyện Đăk Tô, Huyện KonPLông, huyện Sa Thầy, huyện Tu Mơ Rông, trường phổ thông dân tộc nội trú huyện Ia H’Drai (giai đoạn 1), trường Mầm non trung tâm thị trấn Đăk Glei huyện Đăk Glei, trường PTDT bán trú tiểu học xã Ngọc Lây huyện Tu Mơ Rông, trung tâm dạy nghề và  hỗ trợ  nông dân, Hội Nông dân tỉnh...

- Công trình văn hoá: nhà đa năng trường PTDT nội trú huyện Đăk Glei, nhà đa năng huyện Đăk Glei, sân vận động huyện Đăk Hà, nhà văn hoá xã Tân Lập huyện Kon Rẫy, nâng cấp, mở rộng nhà văn hóa xã Đắk Tơ Lung huyện Kon Rẫy,  nhà văn hóa  các  xã Ia Tơi, Ia Dal, Ia Dom huyện Ia H’Drai...  Và một số công trình  thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh; dự án đầu tư tại các địa bàn huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a, các xã biên giới, vùng sâu, vùng xa, các xã trọng điểm đặc biệt khó khăn; dự án đầu tư phục vụ mục tiêu an sinh xã hội; dự án đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, phục vụ sản xuất, dân sinh, như: kiên cố hóa hệ thống kênh thủy lợi, trụ sở HĐND-UBND các xã, sửa chữa nâng cấp và xây mới các hồ chứa nước, các công trình cấp nước sinh hoạt khu dân cư, bê tông hoá một số đường liên thôn… 

- Các loại hình kinh tế khác (hộ dân cư, xã/phường/ thị trấn) trong 9 tháng năm 2018 hoạt động xây dựng chủ yếu do hộ dân cư đầu tư xây dựng nhà ở mới, sửa chữa nhà ở và các công trình liên quan (sân, tường rào, nhà kho, các công trình khác…). Các đơn vị xã, phường, thị trấn cùng nhân dân thực hiện thi công các công trình nhà văn hóa, nhà rông, hội trường, trường học mẫu giáo, nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết…, bê tông hoá các đường liên thôn, liên xã trong chương trình xây dựng nông thôn mới ở một số xã…

 

5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Tính đến ngày 20 tháng 9 năm 2018 số doanh nghiệp đăng ký thành lập là 175 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký trên 1.185 tỷ đồng.

 

6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Tình hình sản xuất nông nghiệp

- Trồng trọt

+ Diện tích gieo trồng (DTGT) cây hàng năm vụ mùa 2018: Ước tính đến thời điểm ngày 15/9/2018 tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ mùa năm 2018 tỉnh Kon Tum ước đạt: 63.533 ha, tăng 0,65% (+409 ha) so với vụ mùa năm 2017, cụ thể DTGT một số loại cây trồng so với vụ mùa năm 2017 như sau:

Cây lúa DTGT: 16.738 ha, giảm 1,13% (-191 ha), trong đó:  Cây lúa ruộng diện tích: 12.455 ha, tăng 0,23% (+29 ha); Cây lúa rẫy diện tích: 4.283 ha, giảm 4,89% (-220 ha). Diện tích cây lúa rẫy giảm do trong năm qua giá cả một số cây trồng khác tương đối ổn định mang lại hiệu quả kinh tế đến hộ nông nghiệp nên một số diện tích trồng lúa rẫy chuyển sang trồng các cây trồng khác, mặt khác giống lúa rẫy đã quá cũ, hiệu quả kinh tế mang lại rất thấp.

Cây ngô diện tích: 4.928 ha, giảm 3,99% (-205 ha), diện tích ngô giảm do năm nay người dân đã chuyển các diện tích gieo trồng cho năng suất thấp sang trồng bời lời, cà phê và một số loại cây khác.

Cây sắn diện tích: 39.526 ha, tăng 2,31% (+892 ha).

Cây lạc DTGT: 105 ha, giảm 19,23 (-25 ha).

Đậu các loại DTGT: 321 ha, giảm 9,07% (-32 ha).

Diện tích cây đậu, cây lạc giảm do những năm trước nông dân tận dụng diện tích đất cây cao su, cây điều đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản để trồng xen. Năm nay, một phần diện tích cây cao su, cây điều đã khép tán trưởng thành nên diện tích cây đậu, lạc giảm so với năm trước.

Rau các loại: 1.252 ha, tăng 6,83% (+80 ha).

Các loại cây hàng năm khác diện tích gieo trồng không lớn và không biến động lớn so với vụ mùa năm 2017.

+ Diện tích cây lâu năm: Ước tính đến thời điểm ngày 30/9/2017, tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm năm 2018 tỉnh Kon Tum ước đạt: 99.528 ha, tăng 2,95% (+2.855 ha) so với năm 2017. Diện tích gieo trồng cây lâu năm tăng chủ yếu do diện tích gieo trồng cây cà phê tăng.

Diện tích cà phê ước đạt 20.613 ha, tăng 16,89% (+2.979 ha) so với năm 2017. Trong đó, diện tích cà phê trồng mới là 2.038 ha, tăng 79,52% (+903 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cà phê tăng do giá cà phê những năm gần đây tương đối ổn định nên người dân quan tâm đầu tư mở rộng.

Cây cao su tổng diện tích ước đạt: 74.339 ha, giảm 0,76% (-567 ha) so với năm 2017. Trong đó, diện tích trồng mới cao su trên địa bàn tỉnh trồng được 78 ha, giảm 89,21% (-51 ha) so với năm 2017. Từ đầu năm đến nay giá mủ cao su có tăng, tuy nhiên vẫn chưa ổn định nên người dân chưa mạnh dạn đầu tư vào trồng mới cây cao su.

Trong 9 tháng năm 2018, cây cà phê chưa cho sản lượng thu hoạch, sản lượng thu hoạch cây cao su ước đạt 32.594 tấn, tăng 6,3% (+1.937 tấn) so với cùng kỳ năm trước, sản lượng thu hoạch tăng chủ yếu do diện tích cho sản phẩm tăng.

- Chăn nuôi

Trong 9 tháng năm 2018 trên địa bàn tỉnh xuất hiện bệnh dịch Lở mồm long móng (LMLM) tại 04 huyện: Đăk Glei, Sa Thầy, Đăk Hà và Ia H’Drai. Tổng số gia súc mắc bệnh 302 con (trâu 11 con, bò 213 con, lợn 78 con), số gia súc điều trị khỏi bệnh 218 con (trâu 11, bò 207), số gia súc bị tiêu hủy 84 con (bò 6, lợn 78).

b) Lâm nghiệp ước tính đến thời điểm 30/9/2018

Công tác trồng rừng mới tập trung trên địa bàn tỉnh là 665 ha, giảm 13,8% (-149 ha) so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm, đến thời điểm này các doanh nghiệp không có kế hoạch trồng rừng, mặt khác trong nhân dân diện tích đất trồng rừng tập trung không còn nhiều. Số cây trồng phân tán đạt 3.551,651 ngàn cây, giảm 1% (-36,189 ngàn cây) so với cùng kỳ năm trước.

  Công tác khai thác lâm sản trên địa bàn tỉnh: Khai thác gỗ là 92.405 m3, tăng 3,4% (+3.020 m3) so với cùng kỳ năm trước. Lượng gỗ khai thác tăng do khai thác gỗ rừng trồng trong dân tăng đáng kể.

  Sản lượng củi khai thác là 189.145 ster, giảm 2,3 % (-4.518 ste) so cùng kỳ năm trước, bao gồm: Củi tận dụng trên rừng trồng doanh nghiệp khai thác là 1.040 ster; củi các hộ cá thể tự khai thác là 188.105 ster.

Tính đến ngày 15/9/2018, trên địa bàn tỉnh xảy ra 46 vụ phá rừng trái pháp luật với diện tích thiệt hại là 22,467 ha, giảm 14 vụ (+13,259 ha) so với cùng kỳ năm trước. Các cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.

c) Thủy sản

- Ước tính sản lượng thủy sản 9 tháng  năm 2018 của tỉnh Kon Tum là 3.332 tấn, tăng 9,4% (+287 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ước tính sản lượng khai thác thủy sản nước ngọt là 1.223 tấn, tăng 10,1% (+112 tấn) so với cùng kỳ năm trước; Ước tính sản lượng nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt là 2.109 tấn, tăng 9% (+175 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

- Năng lực sản xuất thủy sản

Ước tính diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt 9 tháng  năm 2018 trên địa bàn tỉnh là 650 ha, tăng 4% (+25 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Số lồng bè nuôi trồng thủy sản: Ước tính 265 lồng tăng 9,5% (+23 lồng) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích và số lồng nuôi trồng thủy sản tăng lên làm cho sản lượng thủy sản trong kỳ tăng lên. Bên cạnh đó việc khai thác đánh bắt của các hộ trên lòng hồ thủy lợi, thủy điện, sông suối... thuận lợi nên sản lượng thủy sản trong kỳ tăng lên.

- Tình hình dịch bệnh thủy sản: Tính đến ngày 15/9/2018, trên địa bàn tỉnh xuất hiện dịch bệnh thủy sản do chủng vi khuẩn gây bệnh là Steptococus và Pseudomonas, tại hai xã của huyện Đăk Hà: cá bị chết ước khoảng 17 tấn của 25 hộ chủ yếu là cá rô phi, (xã Đăk Ngọk có 08 hộ, cá chết ước khoảng 6 tấn, xã Đăk Ma có 17 hộ, cá chết ước khoảng 11 tấn), giá trị thiệt hại ước tính trên 500 triệu đồng.

 

7. Sản xuất công nghiệp

- Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 9 năm 2018

So với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 9 ước tính tăng 16,04%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng bằng 97,28%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,58%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 26,66%  là do thời tiết năm nay mưa nhiều hơn so với năm trước, lượng nước trong các hồ chứa tương đối đảm bảo, điều kiện thủy văn thuận lợi, các đơn vị ổn định sản xuất nên sản lượng điện tăng; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,08%.

So với tháng trước, hoạt động sản xuất của các đơn vị, cơ sở trên địa bàn tương đối ổn định, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 9 tăng 19,49%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,62%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 51,96%. Nguyên nhân chủ yếu do ngành công nghiệp chế biến thực phẩm tăng, đến tháng 9 các nhà máy sản xuất tinh bột sắn trên địa bàn tỉnh đã vào vụ thu mua nguyên liệu để hoạt động sau thời gian nghỉ mùa vụ, lượng tinh bột sắn sản xuất tăng đã làm chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến tăng so tháng trước; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,12%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 4,64%.

- Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp quý III năm 2018

So với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp quý III  ước tính tăng 21,43%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 7,56%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,78%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 26,40%  là do thời tiết năm nay mưa nhiều hơn so với năm trước, lượng nước trong các hồ chứa tương đối đảm bảo, các đơn vị ổn định sản xuất nên sản lượng điện tăng; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,49%.

So với quý trước, hoạt động sản xuất của các đơn vị, cơ sở trên địa bàn tương đối ổn định, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp quý III  tăng 12,06%. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 26,38%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bằng 89,71%. Nguyên nhân chủ yếu do ngành công nghiệp chế biến giảm, do trong quý III nhà máy đường và các nhà máy sản xuất tinh bột sắn trên địa bàn tỉnh đã nghỉ mùa vụ, lượng tinh bột sắn sản xuất giảm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 28,64% nguyên nhân là do điều kiện thời tiết thuận lợi, mưa nhiều, so với các tháng trong quý 2 lượng nước trong các hồ chứa tương đối đảm bảo, điều kiện thủy văn thuận lợi các đơn vị ổn định sản xuất nên sản lượng điện tăng; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải bằng 96,63%.

Ước tính một số sản phẩm chủ yếu  sản xuất trong quý III  năm 2018 so với cùng kỳ năm trước như sau: Đá xây dựng khai thác 91.716 m3, tăng 18,07%; Tinh bột sắn sản xuất 33.388 tấn, bằng 98,28%; Gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn đạt 54,975 triệu viên, tăng 8,34%; điện sản xuất 339,72 triệu Kwh, tăng 28,70% so với cùng kỳ năm trước.

- Tình hình hoạt động  sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2018

Tính chung 9 tháng năm 2018 ước tính chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 16,21% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 14,64%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,19%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 18,07%;  ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,85% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính một số sản phẩm chủ yếu sản xuất trong 9 tháng  năm 2018 so với cùng kỳ năm trước như sau: Đá xây dựng khai thác 273.315 m3, tăng 21,29% Tinh bột sắn sản xuất 152.748 tấn, tăng 8,18%; Đường RE 16.104 tấn, bằng 88,04%; Gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn đạt 132,669 triệu viên, tăng 14,59%; điện sản xuất 839,3 triệu Kwh, tăng 19,26% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2018 giảm 1,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó nhóm ngành sản xuất chế biến thực phẩm giảm 6,23%. Nguyên nhân chủ yếu là ngành sản xuất tinh bột sắn, bột dong riềng do các nhà máy sản xuất tinh bột sắn mới đi vào sản xuất sản lượng tinh bột sắn sản xuất nhập kho tương đối nhiều nhưng chưa tiêu thụ hết phải lưu kho; các ngành sản xuất thuộc các ngành như sản xuất trang phục, chế biến gỗ, sản xuất sản phẩm từ  khoáng phi kim loại…có thị trường tiêu thụ ổn định,  tình hình tiêu thụ sản phẩm trong tháng tương đối thuận lợi và chỉ số tiêu thụ tăng tương ứng theo sản lượng sản xuất ra.

Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/9/2018 giảm 50,79% so cùng thời điểm năm trước; đa số các ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng thời điểm năm trước, riêng chỉ số tồn kho ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 335,58%, nguyên nhân do sản lượng sản xuất tăng, lượng sản phẩm nhập kho cao, trong khi đó hiện một số công trình xây dựng chưa tập trung thi công nên lượng tiêu thụ chậm.

   Nhìn chung, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến nay phát triển tương đối ổn định. Chỉ số sản xuất công nghiệp hàng tháng đều đạt mức tăng trưởng khá, một số nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì hoạt động ổn định và phát triển, có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, các nhà máy sản xuất tinh bột sắn do nguồn nguyên liệu đảm bảo đã hoạt động tương đối ổn định. Chỉ số ngành công nghiệp khai khoáng tăng cao do trong năm các công trình xây dựng trên địa bàn phát sinh nhiều với quy mô và  nguồn vốn đầu tư lớn, các công trình giao thông  nông thôn bê tông hóa các đường liên thôn, các công trình xây dựng nhà ở khu vực hộ dân cư… phát triển mạnh cần nhiều nguyên vật liệu xây dựng. Các ngành sản xuất như sản xuất trang phục, chế biến gỗ, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại…tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm tương đối ổn định.

 

8.  Thương mại, dịch vụ

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 9 năm 2018 đạt 1.496.348,2 triệu đồng, tăng 0,38% so với tháng trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 1.230.032,1 triệu đồng, chiếm 82,20% trong tổng mức và tăng 0,32% so với tháng trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 177.500,9 triệu đồng, chiếm 11,86% trong tổng mức và tăng 0,53% so với tháng trước; Ngành dịch vụ đạt 88.815,2 triệu đồng, chiếm 5,94% trong tổng mức và tăng 0,87% so với tháng trước.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong quý III năm 2018 ước tính đạt 4.479.693,3 triệu đồng, tăng 17,22% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 3.678.106,9 triệu đồng, chiếm 82,11% trong tổng mức và tăng 16,99% so với cùng kỳ năm trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 534.966,6 triệu đồng, chiếm 11,94% trong tổng mức và tăng 23,64% so với cùng kỳ năm trước; Ngành dịch vụ đạt 266.619,8 triệu đồng, chiếm 5,95% trong tổng mức và tăng 16,55% so với cùng kỳ năm trước.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh 9 tháng  năm 2018 ước tính đạt 12.465.818,4 triệu đồng, tăng 12,48% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 10.257.800,7 triệu đồng, chiếm 82,29% trong tổng mức và tăng 12,01% so với cùng kỳ năm trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 1.459.917,3 triệu đồng, chiếm 11,71% trong tổng mức và tăng 16,47% so với cùng kỳ năm trước; Ngành dịch vụ đạt 748.100,4 triệu đồng, chiếm 6,00% trong tổng mức và tăng 11,48% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ trên địa bàn  tỉnh trong 9 tháng năm 2018 tăng so với cùng kỳ năm trước là do: trong 9 tháng năm 2018 giá cả các mặt hàng tương đối ổn định và phù hợp với thu nhập của số đông người tiêu dùng nên sức mua tăng; một số doanh nghiệp kinh doanh thương mại đã tăng cường triển khai các chương trình khuyến mại đối với một số mặt hàng, thay đổi mẫu mã và nâng cao chất lượng hàng hóa nhằm kích thích lượng tiêu dùng cũng như sức mua của người dân; mặt khác các tháng đầu năm 2018 các ngành sản xuất khác phát triển tương đối ổn định, thu nhập của người dân trên địa bàn tỉnh tăng và chi tiêu cho đời sống theo đó cũng tăng lên đã làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tăng. Bên cạnh đó, một nguyên nhân nữa làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ trong 9 tháng tăng so cùng kỳ là do các ngành kinh tế khác phát triển ổn định đã ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của một số ngành như dịch vụ lưu trú, kinh doanh bất động sản, dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ...

b) Vận tải

- Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính tháng 9 năm 2018: Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính tháng 9 năm 2018 đạt 137.250 triệu đồng, tăng 0,88 % so với tháng trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 53.752 triệu đồng, tăng  1,34%; Vận chuyển ước đạt 995 nghìn lượt khách, tăng 0,92%; Luân chuyển ước đạt 126.687 nghìn lượt khách.km, tăng 0,81%.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước đạt 82.916 triệu đồng, tăng  0,57%; Vận chuyển ước đạt 947 nghìn tấn, tăng 0,5%; Luân chuyển ước đạt 47.301 nghìn tấn.km, tăng  0,95%.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu ước đạt 582 triệu đồng, tăng 1,86%.

Doanh thu và khối lượng vận chuyển hành khách ước tính trong tháng tăng so với tháng trước là do nhu cầu đi lại của người dân tăng. Doanh thu và khối lượng vận chuyển hàng hoá trong tháng cũng tăng so với tháng trước là do nhu cầu vận chuyển hàng hóa phục vụ tiêu dùng và sản xuất tăng.

- Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính quý III năm 2018: Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính quý III năm 2018 đạt 407.925 triệu đồng, tăng 11,24 % so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu đạt 158.704 triệu đồng, tăng 12,93%; Vận chuyển đạt 2.958 nghìn lượt khách, tăng 8,99%; Luân chuyển đạt 376.495 nghìn lượt khách.km, tăng 9,14%.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu đạt 247.504,1 triệu đồng, tăng 10,15%; Vận chuyển đạt 2.829 nghìn tấn, tăng 8,07%; Luân chuyển đạt 140.615 nghìn tấn.km, tăng 6,19%.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu đạt 1.716,5 triệu đồng, tăng 16,62%.

- Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính 9 tháng năm 2018: Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính 9 tháng năm 2018 đạt 1.195.641 triệu đồng, tăng 12,02% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu đạt 461.009 triệu đồng, tăng 12,33%; Vận chuyển đạt 8.668 nghìn lượt khách, tăng 9,69%; Luân chuyển đạt 1.097.966 nghìn lượt khách.km, tăng 9,14%.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu đạt 729.753 triệu đồng, tăng 11,82%; Vận chuyển đạt 8.360,92 nghìn tấn, tăng 9,77%; Luân chuyển đạt 415.044 nghìn tấn.km, tăng 8,57%.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu đạt 4.877 triệu đồng, tăng 12,65%.

 

9. Các vấn đề xã hội 

a) Đời sống dân cư

- Đời sống của dân cư: Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Kon Tum, trong 9 tháng năm 2018 tương đối ổn định, giá cả thị trường của một số mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Mậu Tuất tuy có tăng nhưng không có hiện tượng tăng giá đột biến; tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội được đảm bảo, các vụ phạm pháp hình sự, buôn bán hàng cấm, gian lận thương mại... vẫn còn xảy ra nhưng đã giảm về quy mô và mức độ so với các năm trước; tình hình dịch bệnh, sâu bệnh trên cây trồng và thời tiết tiếp tục có những diễn biến phức tạp ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sản xuất của nhân dân. Song với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND-UBND tỉnh, cùng các ngành, các cấp đã tăng cường công tác quản lý thị trường trên địa bàn tỉnh, thực hiện các giải pháp phát triển hệ thống phân phối, bán lẻ, bảo đảm đồng bộ, không để xảy ra tình trạng chi phối, lũng loạn thị trường, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động buôn lậu, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng các mặt hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng; triển khai các phương án, kế hoạch đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ gìn trật tự an toàn giao thông trên địa bàn; rà soát và thực hiện đầy đủ các chính sách an sinh xã hội; tích cực phòng chống dịch bệnh ở người và gia súc; xử lý kịp thời, có hiệu quả các vụ việc khiếu kiện, tranh chấp, mâu thuẫn trong nhân dân.

- Thực trạng đời sống cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương và giải quyết việc làm

Trong những năm qua cùng với cơ chế, chính sách về lao động, tiền lương áp dụng đối với cán bộ, công nhân viên chức, người lao động trong khu vực Nhà nước, ngoài Nhà nước, cũng như khu vực sản xuất kinh doanh và khu vực hưởng lương từ ngân sách Nhà nước luôn được điều chỉnh, bổ sung kịp thời cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện Nghị định 72/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định từ ngày 01/7/2018 điều chỉnh tăng mức lương cơ sở từ 1.300.000 đồng/tháng lên 1.390.000 đồng/tháng (tăng 6,92%), áp dụng cho các đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động ở trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp huyện, ở cấp xã, ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang.. Vì vậy, đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang dần được cải thiện hơn so với năm trước.

Giải quyết việc làm: Công tác lao động, giải quyết việc làm được quan tâm; tổng số lao động được tạo việc làm thông qua chương trình việc làm từ đầu năm đến nay là 1.683/1.650 lao động, đạt 102 % KH năm (Trong đó, thông qua nguồn vốn vay giải quyết việc làm 1.149 lao động, cung ứng lao động thông qua Trung tâm Dịch vụ việc làm 434 lao động, xuất khẩu lao động: 100 người). Đến nay Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh, đã giải ngân cho vay trên 34 tỷ đồng, tạo việc làm mới cho 1.149 lao động thông qua nguồn vốn giải quyết việc làm.

Tính đến thời điểm báo cáo, có có 472.025 người tham gia BHXH, BHYT, BHTN. Số người nộp hồ sơ hưởng chế độ BHTN từ đầu năm đến nay là 932 người (DTTS 157 người). Số người có quyết định hưởng Bảo hiểm thất nghiệp đến nay là 684 người (trong đó nữ 446 người). Tổng số tiền chi trợ cấp thất nghiệp trong 8 tháng  năm 2018 là: 12,086 tỷ đồng.

- Thực trạng đời sống dân cư nông thôn

Xác định tầm quan trong và ý nghĩa của công tác xây dựng nông thôn mới, song song với việc chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên địa bàn tỉnh.

Đến nay trên địa bàn tỉnh, đã có 13 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Tình hình kinh tế - xã hội của các xã đạt chuẩn nông thôn mới ngày càng khởi sắc và theo hướng phát triển bền vững, giá trị sản lượng nông nghiệp của toàn tỉnh liên tục tăng, chủng loại cây trồng, vật nuôi đa dạng hơn, nhiều sản phẩm nông nghiệp trở thành những hàng hóa xuất khẩu chủ đạo, có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận người dân thuộc khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh dần được cải thiện đáng kể.

Công tác đào tạo nghề: Công tác đào tạo nghề được quan tâm, đặc biệt là công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được triển khai đúng hướng, phù hợp với nhu cầu tạo nguồn lao động cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thực hiện gắn kết giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp góp phần quan trọng vào mục tiêu xây dựng nông thôn mới, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh năm 2017 là 30,3%.

Tiếp tục duy trì các lớp cao đẳng, trung cấp nghề cho 620 học viên; tổ chức đào tạo nghề 1.949 lao động nông thôn, đạt 62,07% kế hoạch (trong đó: đào tạo trình độ sơ cấp: 174 lao động, đào tạo thường xuyên dưới 03 tháng là 1.775 lao động).

- Công tác giảm nghèo: Thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bền vững là chủ trương lớn của Đảng, là nhiệm vụ trọng tâm vừa có tính cấp bách, vừa có tính chiến lược lâu dài của cả hệ thống chính trị và nhân dân nhằm cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của các hộ nghèo, tạo cho hộ nghèo có cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo đó, các ngành các cấp thực hiện rà soát các xã ngoài Chương trình 30a và Chương trình 135 có tỷ lệ hộ nghèo cao, hướng dẫn xây dựng dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo năm 2018.

b) Y tế

- Tình hình dịch bệnh

Tay – Chân – Miệng: Trong tháng, ghi nhận 15 ca mắc mới, giảm 09 ca so với tháng trước và  giảm 30 ca so với tháng 8/2017; trong đó ghi nhận 03 ổ dịch mới tại huyện Đăk Glei. Lũy tích đến 31/8/2018, ghi nhận 80 ca, giảm 48 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Sốt xuất huyết Dengue: Trong tháng, ghi nhận 73 ca mắc mới, tăng 30 ca so với tháng trước, giảm 24 ca so với tháng 8/2017; trong đó ghi nhận 32 ổ dịch mới. Lũy tích đến 31/8/2018 ghi nhận 36 ca, giảm 40 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Thủy đậu: Trong tháng, ghi nhận 11 ca mắc mới, giảm 08 ca so với tháng trước và giảm 10 ca so với tháng 8/2017. Lũy tích đến 31/8/2018, ghi nhận 344 ca, giảm 439 ca so cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Quai bị:Trong tháng, ghi nhận 14 ca mắc mới, giảm 05 ca so với tháng trước và  giảm 06 ca so với tháng 8/2017. Lũy tích đến 31/8/2018, ghi nhận 247 ca, tăng 91 ca so cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Bệnh dại: Trong tháng, không ghi nhận ca mắc mới. Lũy tích đến 31/8/2018,  ghi nhận 04 ca mắc và tử vong và tăng 03 ca so với cùng kỳ năm trước.

Sốt rét: Trong tháng, ghi nhận 21 ca mắc mới, giảm 02 ca so với tháng trước và giảm 01 ca so với tháng 8/2017. Lũy tích đến hết 31/8/2018, ghi nhận 128 ca, không có sốt rét ác tính và không có tử vong, giảm 20 ca so với cùng kỳ năm trước.

Viêm gan vi rút A: Trong tháng, ghi nhận 04 ca mắc mới, giảm 09 ca so với tháng trước và tăng 02 ca so với tháng 8/2017; trong đó ghi nhận 01 ổ dịch mới. Lũy tích đến hết 31/8/2018, ghi nhận 40 ca, tăng 36 ca so với cùng kỳ năm trước.

Bệnh bạch Hầu: Trong tháng không ghi nhận ca mắc mới. Lũy tích đến hết 31/8/2018, ghi nhận 01 ca mắc và tử vong, tăng 01 ca so với cùng kỳ năm trước.

Viêm não Nhật Bản: Trong tháng, không ghi nhận ca mắc mới. Lũy tích đến  31/8/2018, ghi nhận 02 ca, không có tử vong, giảm 01 ca so với cùng kỳ năm trước.

Lao: Trong tháng, thu nhận và điều trị cho 26 bệnh nhân lao các thể, trong đó, AFB (+): 11. Lũy tích đến hết 31/8/2018, thu nhận và điều trị 171 bệnh nhân lao các thể.

Phong: Trong tháng, không có bệnh nhân phong mới. Tính đến  31/8/2018, ghi nhận 02 bệnh nhân phong mới;  quản lý và điều trị: 224 bệnh nhân, trong đó đã hóa trị liệu: 03 bệnh nhận, chăm sóc tàn tật 176 bệnh nhân, giám sát 45 bệnh nhân.

- Phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng không phát hiện trường hợp nhiễm HIV mới, 01 bệnh nhân nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS và 01 tử vong do AID.  Lũy tích số nhiễm HIV/AIDS tính đến 31/8/2018 là 473 người, trong đó bệnh nhân AIDS 274 và tử vong AIDS 176, số bệnh nhân hiện còn sống và đang quản lý được 128 người. Số bệnh nhân điều trị thuốc ARV 105 người, trong đó người lớn 99 (02 phụ nữ mang thai) và trẻ em 06; điều trị dự phòng lao bằng Isoniazid (INH) 28 người.

- An toàn vệ sinh thực phẩm: Kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm (ATTP) tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống và kiểm tra đột xuất về ATTP tại các cở sở sản xuất nước uống đóng chai, đóng bình, nước đá thực phẩm có kết quả giám sát mẫu không đạt. Kết quả: Tổng số cơ sở được kiểm tra: 61 cơ sở, 49 cơ sở đạt; số cơ sở bị xử phạt vi phạm hành chính 08 cơ sở, với tổng số tiền phạt 11,25 triệu đồng.

Tình hình ngộ độc thực phẩm: Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc; có 08 ca ngộ độc thực phẩm do ăn uống không đảm bảo vệ sinh.

c). Giáo dục – đào tạo

Ngày 15/8/2018, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết năm học 2017-2018 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm học 2018-2019. Năm học 2017-2018, ngành GD&ĐT tỉnh đạt nhiều kết quả đáng khích lệ. Nổi bật, ngành đã chuẩn bị, tổ chức thi, kết quả kỳ thi THPT Quốc gia đảm bảo độ tin cậy, trung thực, đánh giá đúng năng lực học sinh. Tỉ lệ tốt nghiệp THPT Quốc gia đạt 95,87%, tăng 0,13% so với năm học trước. Đặc biệt, có 90,32% học sinh DTTS đỗ tốt nghiệp (trong đó 17 học sinh DTTS đạt điểm cao). Năm học 2018-2019, tỷ lệ huy động trẻ ra lớp tăng so với năm học trước; cơ sở vật chất, thiết bị dạy học được bổ sung, hoàn thiện; đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục được bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong trường học được đẩy mạnh. Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh tiếp tục triển khai hiệu quả các đề án, kế hoạch và quy hoạch giáo dục nhằm thực hiện tốt Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV; rà soát, sắp xếp lại đội ngũ giáo viên, khắc phục tình trạng thiếu giáo viên; đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng trong giáo dục phổ thông.

d) Hoạt động văn hóa, thể thao

Ngày 01/02/2018, tại Thư viện tỉnh, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch đã khai mạc Trưng bày, giới thiệu sách, tài liệu nhân kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và 105 năm ngày thành lập tỉnh Kon Tum. Hơn 3.000 đầu sách, ấn phẩm và 60 tranh, ảnh được trưng bày theo 3 chủ đề: Đảng quang vinh - Bác Hồ vĩ đại - Mùa xuân tươi thắm, Mậu Thân 1968 – 50 năm nhìn lại, Kon Tum quê hương tôi. Các tư liệu trưng bày là những cuốn sách hay, tranh, ảnh thể hiện rõ nét truyền thống vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam qua 88 năm thành lập và phát triển, ý nghĩa to lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam vào Tết Mậu Thân 1968, lịch sử 105 năm hình thành và phát triển của tỉnh Kon Tum.

Từ ngày 17 đến 20/01/2018 tại Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu TDTT tỉnh, Ban Tổ chức Đại hội TDTT tỉnh lần thứ VI đã tổ chức Giải cờ vua, cờ tướng - 2 môn trong tổng số 15 môn thể thao thi đấu tại Đại hội TDTT tỉnh lần thứ VI. Dự giải có trên 50 vận động viên nam, nữ của 8 đơn vị.

Chương trình sắc Xuân Mậu Tuất năm 2018, do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Kon Tum tổ chức diễn ra trong 03 ngày (từ 19-21/02) gồm nhiều hoạt động, như: đua thuyền độc mộc trên sông Đăk Bla; diễn tấu cồng chiêng, múa xoang; khám phá trò chơi dân gian đánh đu, cầu khỉ, leo cột trơn, cầu bập bênh; trải nghiệm cùng nghề nặn tò he, rối nước truyền thống, ẩm thực bản địa. Ngay sau lễ khai hội, hàng nghìn người dân và du khách đã cùng cổ vũ cho Giải đua thuyền độc mộc truyền thống trên sông Đăk Bla. Giải năm nay có 51 thuyền đua với 84 vận động viên của 7 đơn vị thuộc huyện Sa Thầy và thành phố Kon Tum tham gia.

Ngày 09/4/2018, tại Sân vận động tỉnh (phường Trường Chinh, thành phố Kon Tum), UBND tỉnh tổ chức Lễ khai mạc Đại hội TDTT tỉnh Kon Tum lần thứ VI-2018.Tham gia đại hội lần này có gần 1.500 cán bộ, huấn luyện viên, vận động viên của 17 đoàn tham gia tranh tài ở 114 nội dung (bộ huy chương) của 15 môn.

Trong 2 ngày 07-08/5/2018, Công đoàn Viên chức tỉnh tổ chức Hội thao cán bộ, công chức, viên chức, người lao động năm 2018. Tham gia hội thao có 155 vận động viên đại diện cho 6 cụm thi đua thuộc Công đoàn Viên chức tỉnh; thi đấu 2 môn Bóng đá mi ni nam và cầu lông.

Trong 2 ngày 07-08/6/2018, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức Giải bóng đá trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn lần thứ XVIII – 2018. Tham gia giải có 60 vận động viên nam, nữ đến từ 3 đơn vị: Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh, Cơ sở xã hội Vinh Sơn 1, Cơ sở xã hội Vinh Sơn 2.

Trong 02 ngày 21-22/6/2018, tại Trung tâm Văn hóa Thể thao Thanh thiếu nhi tỉnh, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức Hội diễn nghệ thuật quần chúng tỉnh Kon Tum lần thứ VIII năm 2018. Hội diễn thu hút gần 300 diễn viên không chuyên đến từ 8 đoàn nghệ thuật quần chúng của 6 huyện, thành phố.

Ngày 22/7/2018, tại Nhà tập luyện và thi đấu TDTT tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức bế mạc Giải vô địch Cầu lông tỉnh Kon Tum mở rộng năm 2018. Giải được diễn ra từ 19-22/7, quy  tụ hơn 200 vận động viên của 15 đoàn đến từ các cơ quan, đơn vị, địa phương, câu lạc bộ cầu lông trong tỉnh và 06 câu lạc bộ cầu lông của các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên và Khánh Hòa.

Từ ngày 17-19/8/2018, tại thành phố Kon Tum, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp với Liên đoàn Quần vợt tỉnh tổ chức Giải Quần vợt tỉnh Kon Tum mở rộng năm 2018 tranh Cúp Bia Sài Gòn Kiên Giang và Bobolat.

e) Tình hình an ninh trật tự - an toàn giao thông (ANTT – ATGT)

- Tình hình  ANTT – ATGT tháng 8/2018

Vi phạm pháp luật về trật tự xã hội: Phát hiện 43 vụ (tăng 18 vụ so với tháng trước), trong đó: Trộm cắp tài sản 15 vụ, vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ 06 vụ, cố ý gây thương tích 05 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 03 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 03 vụ, hiếp dâm 02 vụ, giết người 01 vụ, giết người, gây rối trật tự công cộng 01 vụ, cướp tài sản 01 vụ, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng 01 vụ, dâm ô đối với người dưới 16 tuổi 01 vụ, đánh bạc 01 vụ, cưỡng đoạt tài sản 01 vụ, cố ý làm hư hỏng tài sản 01 vụ, vi phạm chế độ một vợ một chồng 01 vụ. Thiệt hại: chết 07 người, bị thương 09 người, mất 02 mô tô, 477.500.000 đồng tiền mặt và một số tài sản trị giá khoảng 80 triệu đồng.

Tội phạm về ma túy: phát hiện 04 vụ về mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 0,4526 gam Methamphetamine, 03 gói tinh thể rắn (nghi ma tuý đá).

Tội phạm kinh tế: Phát hiện 07 vụ, trong đó: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản 05 vụ, cho vay nặng lãi trong giao dịch nhân sự 02 vụ.

Tai nạn giao thông: xảy ra 08 vụ (tăng 04 vụ so với tháng trước). Hậu quả: chết 07 người, bị thương 06 người, hư hỏng 05 xe ô tô, 08 xe mô tô.

Qua công tác tuần tra kiểm soát, lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 1.746 trường hợp vi phạm Luật GTĐB; tạm giữ 302 phương tiện, 1.226 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 1.527 trường hợp, thu 795 triệu đồng nộp ngân sách.

- Tình hình ANTT – ATGT 8 tháng  năm 2018

Vi phạm pháp luật về trật tự xã hội: phát hiện 267 vụ. Trong đó: Trộm cắp tài sản 79 vụ, cố ý gây thương tích 50 vụ, giết người 09 vụ, giết người, gây rối trật tự công cộng 02 vụ, vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 23 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 15 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 12 vụ, chống người thi hành công vụ 03 vụ, dâm ô với trẻ em 01 vụ, cưỡng đoạt tài sản 04 vụ, cố ý gây thương tích dẫn đến chết người 01 vụ, sử dụng trái phép vật liệu nổ 01 vụ, làm nhục người khác 01 vụ, đánh bạc 11 vụ, chứa mại dâm 01 vụ, hiếp dâm trẻ em 03 vụ, gây rối trật tự công cộng 04 vụ, cướp tài sản 05 vụ, vô ý làm chết người 02 vụ, hủy hoại tài sản 03 vụ, đe dọa giết người 01 vụ, tàng trữ sử dụng vũ khí quân dụng 02 vụ, cố ý hủy hoại tài sản 01 vụ, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng 02 vụ, sử dụng con dấu tài liệu giả của cơ quan tổ chức 02 vụ, giao cấu với trẻ em 01 vụ, tham ô tài sản 01 vụ, cố ý làm hư hỏng tài sản 02 vụ, giết người, cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng 01 vụ, bắt giữ người trái pháp luật 01 vụ, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có 01 vụ, trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích 01 vụ, cướp giật tài sản 01 vụ, công nhiên chiếm đoạt tài sản 01 vụ, cố ý gây thương tích, tàng trữ, sử dụng vũ khí trái phép 01 vụ, tàng trữ, sử dụng vũ khí trái phép 01 vụ, vi phạm các quy định khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản 02 vụ, khai thác lâm sản trái phép 01 vụ, dâm ô đối với người dưới 16 tuổi 02 vụ, hiếp dâm 03 vụ, hiếp dâm đối với người dưới 16 tuổi 01 vụ, cố ý gây thương tích, cố ý làm hư hỏng tài sản 01 vụ, trộm cắp tài sản, huỷ hoại tài sản 01 vụ, trộm cắp tài sản, mua bán trái phép chất ma tuý 01 vụ, vận chuyển lâm sản trái phép 01 vụ, vận chuyển hàng cấm 01 vụ, cho vay nặng lãi trong giao dịch nhân sự 02 vụ, vi phạm chế độ một vợ một chồng 01 vụ. Hậu quả: chết 27 người, bị thương 70 người. Thiệt hại: mất 16 mô tô, 14 ĐTDĐ, 02 máy tính xách tay, 01 Ipad, 243 cây bạch đàn, 297 gốc sâm Ngọc Linh, 17 chiếc cồng, chiêng, 5.482 triệu  đồng tiền mặt và một số tài sản trị giá khoảng 662,5 triệu đồng. Thu giữ: 08 mô tô, 05 ĐTDĐ, 83,914m3 gỗ từ nhóm III đến nhóm VIII; 170 kg pháo nổ, 01 súng (dạng súng rulô), 60 viên đạn, 01 súng bắn đạn bi, 01 súng tự chế, 01 dao và 358 triệu đồng tiền mặt.

Tội phạm về ma túy: phát hiện 30 vụ, trong đó: Tàng trữ trái phép chất ma túy 15 vụ, vận chuyển trái phép chất ma túy 01 vụ, tàng trữ trái phép chất ma túy và tàng trữ súng tự chế 01 vụ, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy 01 vụ, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy 12 vụ. Thu giữ: 01 gói và 0,4827g hêrôin; 16,3039g Methamphetamine, 05 gói ma túy đá, 11 gói bột màu trắng nghi ma túy, 01 gói chất rắn nặng khoảng 1kg (nghi ma tuý đá), 03 gói tinh thể rắn (nghi ma tuý đá),  03 ĐTDĐ, 01 xe mô tô, 01 súng rulô tự chế, 16 viên đạn, 5,0727 gram ma túy đá, 01 dao.

Tội phạm kinh tế: phát hiện 37 vụ, trong đó: Vận chuyển pháo trái phép 23 vụ, tàng trữ trái phép 02 vụ, sử dụng trái phép pháo 03 vụ, tàng trữ  vận chuyển trái phép pháo 02 vụ, vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản 05 vụ, cho vay nặng lãi trong giao dịch nhân sự 02 vụ. Thu giữ 202,5  kg pháo nổ, 432,4 kg và 02 bánh pháo hoa, 227,8 kg và 90 hộp pháo, 5,91 m3 gỗ các loại.

Tai nạn giao thông: xảy ra 41 vụ. Hậu quả: chết 44 người, bị thương 48 người, hư hỏng 18 xe ô tô, 30 xe mô tô, 01 xe đạp.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 14.951 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ; tạm giữ 5.188 phương tiện, 6.572 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 15.357 trường hợp, thu 8.250.048.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

f) Tình hình cháy, nổ: Trong tháng 8 năm 2018 không xảy ra. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 26 vụ cháy, ước tổng thiệt hại khoảng 3.954 triệu đồng.

Cục Thống kê 

TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC