• Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử của Cục Thống kê tỉnh Kon Tum.
  • Địa chỉ: 415 URE - Phường Trường Chinh - Thành phố Kon Tum - Tỉnh Kon Tum.
Thứ Tư, 19/12/2018 04:04
Thông tin kinh tế xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum tháng 7 năm 2018
Cập nhật: Thứ Hai, 30/07/2018 15:48

 

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

- Trồng trọt

+ Diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ mùa 2018

Ước tính đến thời điểm ngày 15/7/2018 tổng diện tích gieo trồng (DTGT) cây hàng năm vụ mùa 2018 tỉnh Kon Tum là: 57.050 ha, giảm 1,83% (-1.065 ha) so với cùng kỳ vụ mùa năm 2017. Cụ thể DTGTmột số loại cây trồng như sau:

Cây lúa DTGT: 13.587 ha, giảm 0,63% (-86 ha) so với cùng kỳ vụ mùa năm 2017, chia ra:Cây lúa ruộng DTGT: 9.578 ha, tăng 0,62% (+53 ha); Cây lúa rẫy DTGT: 4.009 ha, giảm 3,31% (-139 ha). Diện tích cây lúa rẫy giảm do năm  trước giá cả một số cây trồng khác tương đối ổn định mang lại hiệu quả kinh tế nên người dân đã chuyển một số diện tích trồng lúa rẫy sang trồng các loại cây khác, mặt khác giống lúa rẫy đã quá cũ, hiệu quả kinh tế mang lại rất thấp. 

Cây ngô DTGT: 4.778 ha, giảm 4,65% (-233 ha).

Cây sắn DTGT: 37.050 ha, giảm 1,98% (-749 ha).

Diện tích ngô, sắn giảm do năm nay người dân đã chuyển các diện tích gieo trồng cho năng suất thấp sang trồng bời lời, cà phê và một số loại cây khác.

Khoai lang DTGT: 113 ha, giảm 1% (-1 ha).

Cây lạc DTGT: 91 ha, giảm 18,02% (-20 ha).

Đậu các loại DTGT: 275 ha, giảm 3,51% (-10 ha).

Diện tích cây đậu, cây lạc giảm do những năm trước nông dân tận dụng diện tích đất cây cao su, cây điều đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản để trồng xen. Năm nay, một phần diện tích cây cao su, cây điều đã khép tán trưởng thành nên diện tích cây đậu, lạc giảm so với năm trước.

Rau các loại DTGT: 1.008 ha, tăng 3,81% (+37 ha).

Hoa các loại DTGT: 63,9 ha, giảm 13,12% (-9,6 ha).

+ Diện tích cây lâu năm

Kon Tum là tỉnh có sản lượng cây ăn quả không lớn. Khí hậu, thổ nhưỡng ở đây không phù hợp với các loại cây ăn  quả. Diện tích chủ yếu trồng rải rác ở các khu vườn hộ dân, sản lượng thu hoạch chủ yếu phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày.

Sản lượng cây công nghiệp lâu năm cũng không nhiều so với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên. Kon Tum chủ yếu trồng tập trung các cây trọng điểm là cao su và cà phê.

Ước tính đến thời điểm ngày 15/7/2018, tổng diện tích cây lâu năm hiện có trên địa bàn tỉnh là: 97.919 ha, tăng 1,81% (+1.706 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cây cà phê là 18.925 ha, tăng 9,30% (+1.612 ha) so với cùng kỳ năm trước; trong đó, diện tích trồng mới trong năm là 1.010 ha. Diện tích cây cao su là 74.598 ha, giảm 0,11% (-124 ha) so với cùng kỳ năm trước; trong đó, diện tích trồng mới trong năm là 41 ha.

- Chăn nuôi

Trong tháng tổng đàn tương đối ổn định, trên địa bàn tỉnh không xảy ra các dịch bệnh nguy hiểm trên gia súc, gia cầm như: Lở mồm long móng ở đàn trâu, bò; Tai xanh ở lợn và Dịch cúm ở đàn gia cầm.

b) Lâm nghiệp

Công tác quản lý bảo vệ rừng, công tác phòng cháy chữa cháy được các ngành chức năng tăng cường chỉ đạo và hiện nay đang là mùa mưa ở Tây Nguyên. Do đó, tính đến 15/7/2018, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng.

Tính đến ngày 15/7/2018, trên địa bàn tỉnh xảy ra 35 vụ phá rừng trái pháp luật với diện tích thiệt hại là 8,625 ha, giảm 22 vụ (+0,042 ha) so với cùng kỳ năm trước. Các cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.

Ước tính đến thời điểm 31/7/2018, công tác trồng rừng mới tập trung trên địa bàn tỉnh là 91 ha, tăng 4,83% (+4,2 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Công tác khai thác lâm sản: ước tính đến ngày 31/7/2018, trên địa bàn tỉnh khai thác gỗ là 26.824 m3, giảm 6,27% (-1.793 m3 ) so với cùng kỳ năm trước. Lượng gỗ khai thác giảm do đóng cửa rừng khai thác gỗ tự nhiên ở Tây Nguyên và công ty Nguyên liệu giấy miền Nam khai thác giảm do giá gỗ giảm; Sản lượng củi khai thác là 144.605 Ste, giảm 2,24% (-3.308 Ste) so với cùng kỳ năm trước.

c) Thủy sản

Tính đến 15/7/2018, diện tích nuôi trồng thủy sản là 644 ha, tăng 4,40% (+27 ha), so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thuỷ sản là 2.340 tấn, tăng 8,31% (+180 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

Sản lượng nuôi trồng nước ngọt là 1.485 tấn, tăng 8,50% (+116 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng khai thác nước ngọt là 855 tấn, tăng 8,12% (+64 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thủy sản tăng so với cùng kỳ năm trước là do diện tích nuôi trồng thủy sản tăng và số lồng bè nuôi trồng thủy sản tăng 13,5% (+31 lồng) so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó thời tiết thuận lợi cho các hộ khai thác đánh bắt vùng lòng hồ thủy điện, thủy lợi tăng lên.

2. Công nghiệp

- Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp tháng 7 năm 2018

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 7 năm 2018 ước tính tăng 33,36% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng  0,76%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 54,78%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng  27,14%; ngành Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,76% so với cùng kỳ năm trước.

So với tháng trước chỉ số sản xuất toàn ngành  công nghiệp tháng 7 năm 2018 ước tính tăng 6,49%. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 6,64%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,46%, nguyên nhân do nguồn nguyên liệu đầu vào để sản xuất đường đã hết, nên nhà máy sản xuất đường đã ngừng sản xuất làm chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm so tháng trước; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,71% so với tháng trước là do lượng nước trong các hồ chứa tương đối đảm bảo, các đơn vị ổn định sản xuất nên sản lượng điện tăng; chỉ số ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 2,50% so tháng trước.

- Tình hình hoạt động  sản xuất công nghiệp 7 tháng năm 2018

  Ước tính chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 7 tháng  năm 2018 tăng 15,99% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng  16,55%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,92%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng  15,33% ; ngành Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,80% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính một số sản phẩm sản xuất trong 7 tháng  năm 2018 như sau:

Đá xây dựng khai thác 199.165 m3, tăng 22,59% so với cùng kỳ năm trước; Tinh bột sắn sản xuất  122.559 tấn, tăng 14,30%  so với cùng kỳ năm trước; Đường RE 16.104 tấn, bằng 88,04% so với cùng kỳ năm trước; bàn, ghế sản xuất 124.702  chiếc, tăng  11,18% so với cùng kỳ năm trước, điện sản xuất 605,52 triệu Kwh, tăng 15,92% so với cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất ngành công nghiệp của các đơn vị, cơ sở trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong  7 tháng  năm 2018 tương đối ổn định, một số nhóm ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì hoạt động ổn định và phát triển, có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước,  các nhà máy sản xuất tinh bột sắn do nguồn nguyên liệu đảm bảo đã hoạt động tương đối ổn định. Chỉ số ngành công nghiệp khai khoáng tăng cao do trong năm các công trình xây dựng trên địa bàn phát sinh nhiều với quy mô và  nguồn vốn đầu tư lớn, các công trình giao thông  nông thôn bê tông hóa các đường liên thôn, các công trình xây dựng nhà ở khu vực hộ dân cư… phát triển mạnh cần nhiều nguyên vật liệu xây dựng. Riêng  Công ty Cổ phần Đường Kon Tum do trong năm 2018 đi vào sản xuất chậm hơn so với năm 2017 (tháng 3 năm 2018 mới sản xuất ổn định) nên sản lượng đường giảm so với cùng kỳ năm trước.  Ngành sản xuất bàn, ghế tình hình tiêu thụ sản phẩm đến thời điểm hiện tại có thuận lợi hơn. Các ngành sản xuất khác như sản xuất trang phục, chế biến gỗ, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại…tình hình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm tương đối ổn định.

3. Vốn đầu tư

- Ước tính vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum tháng 7 năm 2018 đạt 124.518 triệu đồng, tăng 11,71% so với cùng kỳ, trong tổng vốn:

 Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 104.494 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 83,92%, trong tổng số nguồn vốn, tăng 25,90% so với cùng kỳ. Trong đó: nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 80.210 triệu đồng chiếm 76,76%; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 12.103 triệu đồng, chiếm 11,58%; nguồn vốn ODA đạt 4.851 triệu đồng, chiếm 4,64%; nguồn vốn Xổ số kiến thiết đạt 3.210 triệu đồng, chiếm 3,07%; nguồn vốn khác đạt 4.120 triệu đồng, chiếm 3,94% trong tổng nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh.

Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 20.024 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 16,08% trong tổng số nguồn vốn, bằng 70,52% so với cùng kỳ. Trong đó: vốn cân đối ngân sách huyện đạt 9.610 triệu đồng, chiếm 47,99%; vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 9.063 triệu đồng, chiếm 45,26%; nguồn vốn khác đạt 1.351 triệu đồng, chiếm 6,75% trong tổng nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện. 

- Ước tính vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum 7 tháng năm 2018 đạt 748.831 triệu đồng, tăng 11,70% so với cùng kỳ, trong tổng vốn:

 Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 588.961 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 78,65% trong tổng số nguồn vốn, tăng 24,02% so với cùng kỳ. Trong đó: nguồn vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 412.392 triệu đồng, chiếm 70,02%; nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 77.715 triệu đồng, chiếm 13,02%; nguồn vốn ODA đạt 36.064 triệu đồng, chiếm 6,12%; nguồn vốn Xổ số kiến thiết đạt 22.519 triệu đồng, chiếm 3,82%; nguồn vốn khác đạt 40.271 triệu đồng, chiếm 6,84% trong tổng số nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh.

Nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện đạt 159.844 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 21,35% trong tổng số nguồn vốn, đạt 81,84% so với cùng kỳ. Trong đó: vốn cân đối ngân sách huyện đạt 78.334 triệu đồng, chiếm 49,01%; vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 72.571 triệu đồng, chiếm 45,40%; nguồn vốn khác đạt 8.939 triệu đồng, chiếm 5,59% trong tổng nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước cấp huyện.

Trong 7 tháng năm 2018 vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh Kon Tum chủ yếu tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, cải tạo nâng cấp các tuyến đường giao thông, kiên cố hóa các kênh mương, trụ sở làm việc UBND các xã, công trình cấp nước sinh hoạt, công trình giáo dục, y tế trên địa bàn.

Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong 7 tháng năm 2018 diễn ra thuận lợi. Để đạt được kết quả này là nhờ sự nỗ lực chỉ đạo của các cấp, các ngành chức năng, sự phối hợp kiểm tra, đôn đốc và kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc của nhà thầu thi công nên hầu như các dự án, công trình trên địa bàn tỉnh đang được đẩy nhanh tiến độ, nhất là các dự án, công trình trọng điểm có tầm ảnh hưởng tích cực đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. 

4. Thương mại, dịch vụ và giá cả

a) Bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính tháng 7 năm 2018 đạt 1.488.724,8 triệu đồng, tăng 1,97% so với tháng trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 1.217.942,1 triệu đồng, chiếm 81,81% trong tổng mức và tăng 1,81% so với tháng trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 180.861,1 triệu đồng, chiếm 12,15% trong tổng mức và tăng 2,32% so với tháng trước; Ngành dịch vụ đạt 89.921,6 triệu đồng, chiếm 6,04% trong tổng mức và tăng 3,50% so với tháng trước.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ trên địa bàn tỉnh 7 tháng  năm 2018 ước tính đạt 9.474.849,9 triệu đồng, tăng 10,80% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá, doanh thu dịch vụ, chia ra: Ngành thương nghiệp đạt 7.797.635,9 triệu đồng, chiếm 82,30% trong tổng mức và tăng 10,37% so với cùng kỳ năm trước; Ngành lưu trú, ăn uống và du lịch đạt 1.105.811,8 triệu đồng, chiếm 11,67% trong tổng mức và tăng 14,28% so với cùng kỳ năm trước; Ngành dịch vụ đạt 571.402,2 triệu đồng, chiếm 6,03% trong tổng mức và tăng 10,18% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ trên địa bàn  tỉnh trong 7 tháng năm 2018 tăng so với cùng kỳ năm trước là do: trong 7 tháng năm 2018, cả thời điểm tết Nguyên đán, giá cả các mặt hàng tương đối ổn định và phù hợp với thu nhập của số đông người tiêu dùng nên sức mua tăng; một số doanh nghiệp kinh doanh thương mại đã tăng cường triển khai các chương trình khuyến mại đối với một số mặt hàng, thay đổi mẫu mã và nâng cao chất lượng hàng hóa nhằm kích thích lượng tiêu dùng cũng như sức mua của người dân; mặt khác các tháng đầu năm 2018 các ngành sản xuất khác phát triển tương đối ổn định, thu nhập của người dân trên địa bàn tỉnh tăng và chi tiêu cho đời sống theo đó cũng tăng lên đã làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tăng. Bên cạnh đó, một nguyên nhân nữa làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tăng so cùng kỳ là do các ngành kinh tế khác phát triển ổn định đã ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của một số ngành như dịch vụ lưu trú, kinh doanh bất động sản, dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ...

b) Vận tải

- Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính tháng 7 năm 2018: Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính tháng 7 năm 2018 đạt 134.604,93 triệu đồng, tăng 0,49% so với tháng trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu ước đạt 51.910,67 triệu đồng, tăng  0,55%; Vận chuyển ước đạt 977,54 nghìn lượt khách, tăng 0,51%; Luân chuyển ước đạt 124.130,7 nghìn lượt khách.km, tăng 0,63%.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu ước đạt 82.136,23 triệu đồng, tăng  0,45%; Vận chuyển ước đạt 939,6 nghìn tấn, tăng 0,32%; Luân chuyển ước đạt 46.456,4 nghìn tấn.km, tăng  0,31%.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu ước đạt 558,03 triệu đồng, tăng 1,09%.

Doanh thu và khối lượng vận chuyển hành khách ước tính trong tháng tăng so với tháng trước là do nhu cầu đi lại của người dân tăng. Doanh thu và khối lượng vận chuyển hàng hoá trong tháng cũng tăng so với tháng trước là do nhu cầu vận chuyển hàng hóa phục vụ tiêu dùng và sản xuất tăng.

- Hoạt động vận tải, kho bãi ước tính 7 tháng năm 2018: Doanh thu vận tải, kho bãi ước tính 7 tháng năm 2018 đạt 922.321,12 triệu đồng, tăng 12,17% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể như sau:

Vận tải hành khách: Doanh thu đạt 354.215,42 triệu đồng, tăng 11,93%; Vận chuyển đạt 6.686,89 nghìn lượt khách, tăng 9,82%; Luân chuyển đạt 845.601,92 nghìn lượt khách.km, tăng 9,01%.

Vận tải hàng hoá: Doanh thu đạt 564.385,39 triệu đồng, tăng 12,33%; Vận chuyển đạt 6.471,63 nghìn tấn, tăng 10,28%; Luân chuyển đạt 320.885,29 nghìn tấn.km, tăng 9,2%.

Hoạt động kho bãi, hỗ trợ vận tải, doanh thu đạt 3.720,31 triệu đồng, tăng 11,24%.

c) Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7 năm 2018 giảm 0,11% so với tháng trước; tăng 3,67% so với cùng kỳ năm trước; tăng 1,34% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân 7 tháng năm 2018 tăng 2,64% so với cùng kỳ năm trước.

 Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, so với tháng trước có 06 nhóm tăng: nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,24%; nhóm Đồ uống và thuốc lá tăng 0,10%; nhóm Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,02%; nhóm Giáo dục tăng 0,55%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,21%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,85%. Có 05 nhóm giảm là nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,02%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,04%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 7,84%; nhóm giao thông thông giảm 0,45%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,11%.

Giá vàng biến động theo giá vàng thế giới và trong nước với xu hướng tăng so với tháng trước, giá vàng 9999 trên địa bàn tỉnh tháng 7/2018 được bán với giá bình quân khoảng 3.476.000 đồng/chỉ, tăng 0,29% so với tháng trước; tỷ giá USD/VND bình quân giao dịch ở mức 22.793 đồng/USD, tăng 0,50% so với tháng trước.

5. Một số tình hình xã hội 

a) Y tế

- Tình hình dịch bệnh

 Tay - Chân - Miệng:  Trong tháng,  ghi nhận  17 ca  mắc mới, tăng 11 ca so với tháng trước và tăng 12 ca so với tháng 6/2017. Lũy tích đến 30/6/2018, ghi nhận 41 ca, giảm 18 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Sốt xuất huyết Dengue: Trong tháng,  ghi nhận 19 ca mắc  mới, tăng 11 ca so với tháng trước và giảm 07 ca so với  tháng 6/2017; trong đó ghi nhận 14 ổ dịch mới. Lũy tích đến 30/6/2018, ghi nhận 55 ca, giảm 45 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Thủy đậu: Trong tháng, ghi nhận 33 ca mắc mới, giảm 33 ca so với tháng trước và giảm 05 ca so với tháng 6/2017. Lũy tích đến 30/6/2018, ghi nhận 315 ca, giảm 427 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Quai bị: Trong tháng, ghi nhận 35 ca mắc mới, giảm 05 ca so với tháng trước  và giảm 01 ca so  với tháng  6/2017. Lũy tích đến  30/6/2018, ghi nhận  214 ca, tăng 96 ca so với cùng kỳ năm trước và không có tử vong.

Bệnh dại: Trong tháng, không ghi nhận ca mắc mới. Lũy tích đến 30/6/2018, ghi nhận 04 ca mắc và tử vong, tăng 03 ca so với cùng kỳ năm trước.

Sốt rét:  Trong tháng, ghi nhận 12 ca mắc mới, giảm 03 ca so với tháng trước và giảm 12 ca so với  tháng  6/2017. Lũy tích đến 30/6/2018,  ghi nhận  84 ca,  không có  sốt rét ác tính  và không có tử  vong, giảm 13 ca so với cùng kỳ năm trước

Viêm gan vi rút A: Trong tháng, ghi nhận 08 ca mắc mới, tăng 04 ca so với tháng trước và tăng 08 ca so với tháng 6/2017; trong đó ghi nhận 04 ổ dịch mới.  Lũy tích đến  30/6/2018, ghi nhận 23 ca,  không có tử vong, tăng  21 ca so với cùng kỳ năm trước.

Bạch hầu: Trong tháng, không ghi nhận ca mắc mới. Lũy tích đến 30/6/2018, ghi nhận 01 ca mắc và tử vong, tăng 01 ca so với cùng kỳ năm trước.

Viêm não Nhật Bản: Trong tháng, ghi nhận 02 ca mắc mới, tăng 02 ca so với tháng trước, bằng so với  tháng 6/2017; trong đó ghi nhận 02 ổ dịch mới. Lũy tích đến  30/6/2018, ghi nhận 02 ca, không có tử vong, bằng so với cùng kỳ năm trước.

Lao: Trong tháng, thu nhận và  điều trị  21 bệnh nhân lao các thể, trong đó  AFB (+): 09. Lũy tích đến 30/6/2018, thu nhận và điều trị 122 bệnh nhân lao các thể.

 Phong: Trong tháng, không phát hiện bệnh nhân phong mới. Tính đến 30/6/2018, tổng số bệnh nhân phong đang quản  lý và điều trị 224; trong đó, đã hóa trị liệu 03, chăm sóc tàn tật 176 và giám sát 45.

Không ghi nhận mắc mới các bệnh cúm A (H1N1, H5N1, H7N9...), hội chứng viêm đường hô hấp vùng Trung Đông do vi rút Corona, bệnh do vi rút Zika  và  không phát hiện trường hợp mắc các bệnh  truyền nhiễm nguy hiểm tại khu vực cửa khẩu. Nhìn chung, tình hình  dịch bệnh trong tháng tương đối ổn định; tuy nhiên số mắc các bệnh tay - chân - miệng, sốt xuất huyết, viêm gan vi rút A, viêm não Nhật Bản tăng  so với tháng trước, số mắc các bệnh  thủy đậu, quai bị, sốt rét, bạch hầu giảm so với tháng trước.

- Phòng chống HIV/AIDS

 Trong tháng, không phát hiện trường hợp nhiễm HIV mới. Lũy tích số nhiễm HIV/AIDS tính đến ngày 30/6/2018 là 473 người, trong đó bệnh nhân AIDS 273 và tử vong do AIDS 174; số  bệnh nhân hiện còn sống 299 người, trong đó đang quản lý được 129 người. Số bệnh nhân hiện đang điều trị  thuốc ARV 107 người, trong đó người lớn 101 (02 phụ nữ mang thai) và trẻ em 06;  25 bệnh nhân đang điều trị dự phòng lao bằng Isoniazid.

- An toàn vệ sinh thực phẩm

 Kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về  an toàn thực phẩm tại các cơ sở  sản xuất, nước uống đóng chai, đóng bình, nước đá thực phẩm trên địa bàn tỉnh Kon Tum. Kết quả tổng số cơ sở được kiểm tra 32, trong đó xử lý vi phạm hành chính 04 cơ sở, với số  tiền 19 triệu đồng về  hành vi không bảo đảm an toàn thực phẩm trong quá trình chứa, đựng thực phẩm theo quy định.

 Kiểm tra, giám sát bảo đảm an toàn thực phẩm đối với các cơ sở  kinh doanh dịch vụ  ăn uống và thức ăn đường phố phục vụ  kỳ thi tốt nghiệp THPT Quốc gia năm 2018 và kiểm tra an toàn thực phẩm đối với các cơ sở  kinh doanh thực phẩm. Kết quả  tổng số cơ sở được kiểm tra 48, trong đó 40 cơ sở đạt và 08 cơ sở nhắc nhở. Trong tháng không xảy ra vụ  ngộ  độc thực phẩm, có 16 ca ngộ độc thực phẩm ghi nhận tại các cơ sở y tế do ăn uống không bảo đảm vệ sinh.

b) Hoạt động văn hóa, thể thao

Trong 02 ngày 21-22/6/2018, tại Trung tâm Văn hóa Thể thao Thanh thiếu nhi tỉnh, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức Hội diễn nghệ thuật quần chúng tỉnh Kon Tum lần thứ VIII năm 2018. Hội diễn thu hút gần 300 diễn viên không chuyên đến từ 8 đoàn nghệ thuật quần chúng của 6 huyện, thành phố: Ngọc Hồi, Đắk Hà, Kon Plông, Kon Rẫy, Sa Thầy, thành phố Kon Tum và 2 ngành Công an tỉnh, Sở Y tế. Các đoàn biểu diễn 4 loại hình nghệ thuật gồm: ca, múa, nhạc, kịch với chủ đề ca ngợi quê hương, đất nước, mảnh đất và con người Kon Tum; tái hiện truyền thống cách mạng và những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam qua các cuộc kháng chiến trường kỳ, anh dũng; công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

c) Tình hình giáo dục

Tình hình thi THPT quốc gia: Cụm thi của tỉnh (do Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các trường: Đại học Nông Lâm (Đại học Huế), Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum và Trường Cao đẳng Cộng đồng Kon Tum) có 13 điểm thi, trên 190 phòng thi với tổng số 4.473 thí sinh đủ điều kiện dự thi, công tác kiểm tra về chuẩn bị địa điểm thi, phòng thi, nơi ở, sinh hoạt cho giám khảo coi thi và các thí sinh ở xa điểm thi đã hoàn tất. Các trường Đại học, Cao đẳng được Bộ Giáo dục và Đào tạo điều động về địa phương tham gia tổ chức thi đã bố trí đầy đủ đội ngũ cán bộ, giảng viên 261 người về các địa phương. Ngành Giáo dục cũng huy động 357 cán bộ, giáo viên phục vụ kỳ thi.

Sáng 27/6/2018, có 4.392/4.473 thí sinh đăng ký dự thi đến làm thủ tục thi, vắng 81 thí sinh. Đồng thời, tổng kết hai ngày rưỡi (từ ngày 25 đến sáng ngày 27/6), đã có 29.690 thí sinh lượt đến dự thi các buổi và các môn thi theo lịch thi của Bộ GD&ĐT quy định.

d) An ninh trật tự - An toàn giao thông (ANTT-ATGT)

- Tình hình  ANTT – ATGT tháng 6/2018

Vi phạm pháp luật về trật tự xã hội: Phát hiện 23 vụ, giảm 11 vụ so với tháng trước. Trong đó: Giết người 01 vụ, hiếp dâm trẻ em 01 vụ, trộm cắp tài sản 06 vụ, trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích 01 vụ, cướp tài sản 01 vụ, cướp giật tài sản 01 vụ, công nhiên chiếm đoạt tài sản 01 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 01 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 01 vụ, cố ý gây thương tích 02 vụ, cố ý gây thương tích, tàng trữ, sử dụng vũ khí trái phép 01 vụ, chống người thi hành công vụ 01 vụ, tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng 01 vụ, tàng trữ, sử dụng vũ khí trái phép 01 vụ, vi phạm các quy định khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản 01 vụ, khai thác lâm sản trái phép 01 vụ, đánh bạc 01 vụ. Hậu quả: Chết 01 người, bị thương 04 người. Thiệt hại: mất 04 mô tô, 06 điện thoại di động, 283,8 triệu đồng tiền mặt và một số tài sản trị giá khoảng 140 triệu đồng. Thu giữ: 94,3 triệu đồng tiền mặt; 43,743m3 gỗ từ nhóm III đến nhóm VIII; 01 súng và 02 viên đạn.

Tội phạm về ma túy: phát hiện 04 vụ về tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 0,9891 gam Methamphetamine, 01 gói bột màu trắng dạng cục (nghi là heroin) 02 gói chất tinh thể màu trắng (nghi ma túy đá).

Tội phạm kinh tế: không xảy ra.

Tai nạn giao thông: xảy ra 04 vụ, giảm 01 vụ so với tháng trước. Hậu quả: chết 05 người, bị thương 02 người, hư hỏng 01 xe ô tô, 04 xe mô tô.

Qua công tác tuần tra kiểm soát, lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 1.553 trường hợp vi phạm Luật GTĐB; tạm giữ 538 phương tiện, 552 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 1.863 trường hợp, thu 887,1 triệu đồng nộp ngân sách.

- Tình hình ANTT – ATGT 6 tháng đầu năm 2018

Vi phạm pháp luật về trật tự xã hội: phát hiện 199 vụ. Trong đó: Trộm cắp tài sản 56 vụ, cố ý gây thương tích 43 vụ, giết người 05 vụ, giết người, gây rối trật tự công cộng 01 vụ, vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 17 vụ, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 11 vụ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản 09 vụ, chống người thi hành công vụ 03 vụ, dâm ô với trẻ em 01 vụ, cưỡng đoạt tài sản 03 vụ, cố ý gây thương tích dẫn đến chết người 01 vụ, sử dụng trái phép vật liệu nổ 01 vụ, làm nhục người khác 01 vụ, đánh bạc 10 vụ, chứa mại dâm 01 vụ, hiếp dâm trẻ em 03 vụ, gây rối trật tự công cộng 04 vụ, cướp tài sản 04 vụ, vô ý làm chết người 02 vụ, hủy hoại tài sản 03 vụ, đe dọa giết người 01 vụ, tàng trữ sử dụng vũ khí quân dụng 02 vụ, cố ý hủy hoại tài sản 01 vụ, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng 01 vụ, sử dụng con dấu tài liệu giả của cơ quan tổ chức 02 vụ, giao cấu với trẻ em 01 vụ, tham ô tài sản 01 vụ, cố ý làm hư hỏng tài sản 01 vụ, giết người, cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng 01 vụ, bắt giữ người trái pháp luật 01 vụ, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có 01 vụ, trộm cắp tài sản, cố ý gây thương tích 01 vụ, cướp giật tài sản 01 vụ, công nhiên chiếm đoạt tài sản 01 vụ, cố ý gây thương tích, tàng trữ, sử dụng vũ khí trái phép 01 vụ, tàng trữ, sử dụng vũ khí trái phép 01 vụ, vi phạm các quy định khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản 01 vụ, khai thác lâm sản trái phép 01 vụ. Hậu quả: chết 17 người, bị thương 56 người. Thiệt hại: mất 11 mô tô, 14 điện thoại di động, 02 máy tính xách tay, 01 Ipad, 243 cây bạch đàn, 17 chiếc cồng, chiêng, 5.337,5 triệu đồng tiền mặt và một số tài sản trị giá khoảng 482,5 triệu đồng. Thu giữ: 01 ĐTDĐ, 43,743m3 gỗ từ nhóm III đến nhóm VIII; 01 súng và 02 viên đạn và 170.089.000 đồng tiền mặt.

Tội phạm về ma túy: phát hiện 23 vụ, trong đó: Tàng trữ trái phép chất ma túy 15 vụ, vận chuyển trái phép chất ma túy 01 vụ, tàng trữ trái phép chất ma túy,  tàng trữ súng tự chế 01 vụ, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy 01 vụ, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy 05 vụ. Thu giữ: 01 gói và 0,4827g hêrôin; 8,9558g Methamphetamine, 05 gói ma túy đá, 09 gói bột màu trắng nghi ma túy, 03 ĐTDĐ, 01 xe mô tô, 01 súng rulô tự chế, 16 viên đạn, 5,0727 gram ma túy đá, 01 dao.

Tội phạm kinh tế: phát hiện 30 vụ, trong đó: Vận chuyển pháo trái phép 23 vụ, tàng trữ trái phép 02 vụ, sử dụng trái phép pháo 03 vụ, tàng trữ  vận chuyển trái phép pháo 02 vụ. Thu giữ 202,5 kg pháo nổ, 432,4 kg, 02 bánh pháo hoa, 227,8 kg và 90 hộp pháo.

Tai nạn giao thông: xảy ra 29 vụ. Hậu quả: chết 29 người, bị thương 27 người, hư hỏng 09 xe ô tô, 20 xe mô tô, 01 xe đạp.

Qua công tác tuần tra kiểm soát lực lượng cảnh sát giao thông toàn tỉnh phát hiện 11.427 trường hợp vi phạm Luật giao thông đường bộ; tạm giữ 4.390 phương tiện, 4.437 giấy tờ xe các loại; xử phạt hành chính 12.224 trường hợp, thu 6.692,6 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.

e) Tình hình cháy, nổ

Trong tháng 6/2018 xảy ra 03 vụ cháy (không tăng không giảm so với tháng trước), trong đó: Cháy nhà dân 01 vụ, cháy xe đầu kéo 01 vụ, cháy công tơ điện 01 vụ. Hậu quả: Thiệt hại về tài sản trị giá khoảng 68 triệu đồng. Nguyên nhân: Do sự cố về điện 02 vụ, đang điều tra 01 vụ. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 24 vụ cháy, ước tổng thiệt hại khoảng 3.809 triệu đồng.

Xem và tải về:   Tải về

Cục Thống kê 

TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC